Đại Rắc Rối - Dave Barry - Hoàn

Thảo luận trong 'Tác phẩm Phương Tây' bắt đầu bởi viet trung, 24/11/21.

  1. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    BIG TROUBLE


    Tác giả: Dave Barry.


    Dịch từ nguyên bản tiếng Anh

    Big Trouble

    của Dave Barry

    (Berkley Books Edition 2001)

    Bản dịch của Việt An.



    ***


    DÀNH TẶNG MICHELLE




    LỜI CẢM ƠN VÀ KHUYẾN CÁO



    Tôi xin mở đầu với lời khuyến cáo: Sách này không dành cho các bạn tuổi ô mai. Sở dĩ phải rào trước vậy là bởi qua những thư từ nhận được, tôi biết các sách hài hước và các chuyên mục trên báo của mình được khá nhiều bạn đọc tuổi ô mai theo dõi, và tôi sướng rơn vì điều đó. Duy đây không phải cuốn sách dành cho họ, bởi lẽ một số nhân vật sử dụng Ngôn Ngữ Người Lớn khá nhiều. Nào phải tôi ham hố gì cho các nhân vật thốt ra những “lời vàng ý ngọc” ấy; họ cứ tự biên tự diễn ấy chứ. Một số nhân vật ngang xương vậy đấy.

    Và giờ đến phần tri ân:

    Trước tiên tôi muốn gửi lời cảm ơn đến biên tập viên của mình ở Putnam, Neil Nyren, người đã khơi mào ý tưởng tôi hãy đặt bút viết một cuốn tiểu thuyết, và làm cho nó mắc cười vào. Neil luôn động viên và trao cho tôi những lời khuyên vàng ngọc, nên tôi du di cho anh chuyện anh đã không hé với tôi nửa lời, ngay từ bước khởi đầu, rằng tôi cần tìm nhân vật và cốt truyện trước cái đã.

    Cảm ơn Al Hart, người đại diện đã hết mình cổ võ tôi xông pha vào lĩnh vực hư cấu. Tôi lúc nào cũng lắng nghe Al, người đã bình tĩnh lèo lái con thuyền văn chương của tôi qua bao cuồng phong bão vũ, với một tay giữ chắc bánh lái và tay còn lại giữ chắc chai bia.

    Tôi rất may mắn khi có được những bạn hữu tiểu thuyết gia tuyệt vời, những người đã hào phóng sẻ chia sự thông thái của họ với tôi vào những ngày đầu tôi viết cuốn sách này, và ngộ ra mình hoàn toàn mù tịt về cốt truyện. Tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Carl Hiaasen, một bậc thầy của thể loại mà tôi đã thử sức – thể loại Một Đám Khùng ở Nam Folrida – cũng như với Stephen King, Elmore Leonard, Paul Levine, Ridley Pearson, và Les Standiford. Nhìn chung thì tất thảy họ đều khuyên tôi đừng quá lo nghĩ về cốt truyện khi mới khởi sự viết, ngoại trừ Ridley, một con người siêu lập trình và đã biết trước mình sẽ có gì cho bữa điểm tâm vào ngày 12 tháng Năm, năm 2011 (trà và bánh nướng xốp kiểu Anh, không bơ). Tôi cũng cảm ơn Jeff Arch vì những dòng động viên quí báu của anh, dù có những từ bằng tiếng Yiddish tôi chịu không hiểu được.

    Cảm ơn người trợ lý nghiên cứu tuyệt vời ông mặt trời của tôi, Judi Smith. Cứ ba hồi là tôi lại nhấc máy điện cho nàng và hỏi nàng những câu kiểu như, “Bình thường một trái dừa Tahiti chứa bao nhiêu sữa vậy cô?” Và nội mười phút thôi, bằng cách nào đó nàng đã liên lạc được với cơ quan có thẩm quyền tối thượng với những trái dừa Tahiti, và nàng sẽ điện cho tôi với cả ram giấy thông tin hờm sẵn, và tôi sẽ nói, “Ai dà, hóa ra tôi chẳng hề cần đến mấy thứ ấy,” vậy mà nàng lại chẳng giận bao giờ mới hay.

    Cảm ơn Luis Albuerne và Bobby D’Angelo, những người đã cho tôi các tư liệu hữu ích về nghiệp vụ cảnh sát và phi cơ chiến đấu, theo thứ tự đề cập. Sợ tôi đã hiểu sai hết về chúng hết trơn quá, nhưng đấy không phải lỗi của họ nghen.

    Sau cùng, cảm ơn tất cả quý bạn đã ủng hộ tôi suốt bao năm qua nhờ việc đọc các mục báo và sách của tôi, cũng như quý bạn lúc này đây (trừ các bạn tuổi ô mai) đang theo tôi bước vào Địa Hạt của Hư Cấu. Hi vọng bạn thấy vui khi đọc nó cũng nhiều như tôi thấy vui khi viết nó vậy. Ý tôi là, khi tôi đã tìm ra cốt truyện rồi ấy.





    ĐẠI RẮC RỐI







    MỘT



    Puggy giữ được việc làm ở quán Bar và Thịt Nướng Jolly Jackal, một quán có gì chứ không có thịt nướng, đã ngót nghét ba tuần. Nếu coi lao động là vinh quang thì đây ắt là vinh hiển đầu tiên trong đời Puggy. Kì thực, sau quãng đời lang bạt kỳ hồ với nghiệp hành khất bán chuyên, nó đang cân nhắc ý định cắm rễ ở Miami, dừng bước giang hồ, xa hơn là tìm lấy một nơi trong nhà nào đó để ngủ nghê. Dù nó rất ưng cái cây của mình.

    Puggy ưng mọi thứ ở Miami. Nó ưng tiết trời ấm áp. Nó ưng việc cảnh sát ở đây tỏ ra quảng đại bất ngờ với hạng người như nó – hạng người mà, chỉ bằng sự hiện diện trên đời, đã có khuynh hướng chà đạp lên các phép tắc mà những công dân mẫu mực chẳng ai nghĩ tới, như chuyện cứ ngồi đồng ở đâu đó mà không mua sắm gì, chẳng hạn. Thái độ của các thầy chú ở đây lại dễ chịu lạ, kiểu như: ầy, đằng ấy cứ ngồi thoải mái, miễn đừng bắn ai là được rồi.

    Puggy còn khoái chuyện ở Miami, bạn tha hồ nghe thiên hạ kháo tiếng Tây Ban Nha mệt nghỉ. Nó khiến Puggy có cảm giác như đang sống ở nước ngoài, ước nguyện của đời nó. Dù cho lần duy nhất nó đặt chân ra khỏi biên giới, vào bốn năm trước sau một cuối tuần thất điên bát đảo khởi sự từ Buffalo, nó đã bị giam giữ trong thời gian ngắn vì tội tiểu bậy ở bảo tàng Ripley's Believe It or Not.

    Kể cũng ngộ, Puggy chưa từng ve vuốt ý định đến Miami. Nó đã rời chốn nương náu cho dân bụi đời ở Cleveland, rồi cứ rong ruổi về nam theo lối vẫy xe đi nhờ, như một loài chim di trú tìm nơi ấm áp để sống qua mùa đông. Run rủi thế nào, bác tài bốc nó lên xe đang thẳng đường tới Hải Cảng Miami, ngay trung tâm thành phố.

    Chưa chi đã thấy hạp phong thủy, Puggy đến vào đúng ngày bầu cử. Lang thang trên đường độ một giờ thì bất chợt một chiếc xe van ghé lại bên nó. Gã lái xe xổ một tràng tiếng Tây Ban Nha đoạn phe phẩy tờ mười đô trước mặt Puggy. Nghĩ bụng gã này muốn làm cuốc thổi kèn, Puggy bèn lắc đầu: "Hổng hứng." Thế là gã đổi cái rẹt sang tiếng Anh, cắt nghĩa chuyện nó cần làm để lấy được mười đô, là đi bầu cử.

    "Ủa, tui đâu phải dân ở đây," Puggy nói.

    "Dân đâu mà chả được," gã nói.

    Puggy chịu liền, hồ hởi tót vào chiếc xe van. Trên đường tới điểm bỏ phiếu, gã lái xe đón thêm bảy cử tri nữa, toàn mày râu, vài cha còn sực nức mùi dầu thơm. Tới điểm bỏ phiếu, cả bọn lò dò bước vô và làm theo răm rắp những gì gã lái xe đã dặn từ trước. Đám công chức phòng phiếu ngó bộ chẳng màng gì tới chuyện đó.

    Đến lượt bỏ phiếu của Puggy, nó trọ trẹ đọc tện mình, như chỉ dẫn từ trước, là Albert Green, nó đọc thành "Albert Gren." Albert Green thật đã quy tiên vào năm 1991, nhưng vẫn đi bầu đều đều ở Miami. Puggy bỏ lá phiếu của mình dưới tên Ô. Green cho một ứng viên thị trưởng tên Carlos gì gì đó, xong ra ngoài và lĩnh mười đô. Chao ôi, mười đô mà in hình như cả bạc triệu trong bàn tay nó.

    Tự nào giờ Puggy chưa một lần bình bầu cho bất cứ thứ gì. Nhưng trong cái ngày thần diệu ấy, vi vu trong chiếc van trắng, nó đã bỏ phiếu cho chức thị trưởng Miami bốn lần tại bốn địa điểm khác nhau. Ba lần đầu, mỗi lần nó được mười đô, duy tới lần thứ tư, gã lái xe nói giá bây giờ còn năm đô thôi, Puggy ô kê luôn. Nó nghĩ bụng thành phố Miami đã quá thơm thảo với mình rồi, có phiền chi nếu phải đáp đền nó chút đỉnh.

    Puggy bỏ lá phiếu cuối cùng tại một khu vực của Miami có tên là Coconut Grove, cũng là nơi gã lái xe thả nó xuống đường. Nó thích thú ngắm nhìn những hàng cọ, làn nước, những cột buồm đong đưa giữa xanh biếc bầu trời. Cứ như bồng lai tiên cảnh. Puggy thấy lòng phơi phới. Nó được ấm áp này, được ba lăm đô tiền mặt này, cha sanh mẹ đẻ tới giờ Puggy mới trông thấy một số tiền lớn nhường vậy. Nó quyết định đem hết đi uống bia.

    Puggy cất công lùng sục một tửu quán tốt, loại trừ ngay kiểu bar cho khách du lịch ở trung tâm Coconut Grove, nơi một cốc bia có giá năm đô, mắc quá, ngay cả với người vừa kiếm được mười đô cho một lần bỏ phiếu như Puggy. Và rồi, sau một hồi xàng xê cùng khắp vùng ngoại vi xơ xác của Coconut Grove, Puggy thấy mình đang lững thững bước vào Bar và Thịt Nướng Jolly Jackal.

    Jolly Jackal không phải một cơ sở khang trang. Nói cho ngay, nó cần bỏ vài nghìn đô để tu tạo mặc may mới đạt tới tầm của một quán cùi bắp. Biển đèn nê-ông chỗ cửa sổ đã tạch quá nửa, nên chỉ còn sáng lên mỗi chữ “ACKAL.” Từ cửa bước vô, hiện lên qua ánh sáng lờ nhờ là cái nhà cầu khuyết cửa mấy năm nay của bổn tiệm, kể từ cái bận một vị khách quen, tức mình vì xoay nắm cửa mãi không ăn thua, đã công phá nó bằng cái bình chữa cháy. Quầy bar tối hù ngầy ngật mùi ôi thiu của bia cũ. TV đang chiếu đua xe mô tô. Và loằng ngoằng chi chít trên tường là những tên người và các hình vẽ cơ quan sinh dục thô lậu. Puggy có cảm giác như được về nhà.

    Nó ngồi xuống cạnh quầy bar trống trơn, trừ một gã râu xồm ngồi cuối quầy đang tán dóc với tay bán bar, không phải bằng tiếng Anh mà Puggy nghe cũng chẳng ra tiếng Tây Ban Nha. Tay bán bar là một gã mặt bư với thân hình hộ pháp, hắn liếc xéo Puggy song không tiến lại.

    “Lấy tui chai Budweiser nhen,” Puggy nói.

    “Có tiền không đó?” gã bartender hỏi.

    Puggy không cảm thấy bị xúc phạm. Nó biết mình trông như kẻ không xu dính túi. Mà bình thường thì đúng vậy thật.

    “Có chớ,” nó nói và dốc hết lên mặt quầy, ba tờ mười và một tờ năm. Gã bán bar làm thinh, khui nắp một chai cổ dài rồi để trước mặt Puggy. Hắn nhón lấy tờ năm đô của Puggy rồi thối lại ba đô rưỡi. Xong xuôi, hắn quay lại chỗ gã râu rậm, hai thằng xí xa xí xồ gì đó rồi cùng cười lên ha hả.

    Puggy chẳng bận tâm. Nó đang nhẩm tính, coi với giá một đô rưỡi một chai thì kêu được nhiêu chai hết. Nó không xác định được con số cụ thể, nhưng chắc nhiều. Hơn chục chai là có. Còn dư thì lấy vài gói Slim Jims, nếu ở đây có bán.

    Tu đến chai thứ tư thì Puggy thấy có hai thằng lom dom bước vào quán, một thằng là Snake, mặc áo thun in chữ Cá Sấu Mỹ, thằng kia là Eddie, mặc áo thun in chữ Đừng Nhờn Với Dick. Hai thằng đều mặc quần jean rách rưới, mấy bàn chân dận dép lào đóng sình đất đen thui, nên nhìn như thể chúng đang mang tất.

    Snake và Eddie tự xưng là những ngư dân, duy tụi nó chẳng đánh tôm đánh cá gì ráo. Song quả thực chúng có lưu trú trên một chiếc thuyền; một thứ đồ lạc xoong bị chủ nhân hợp pháp của nó vứt đi bởi động cơ đã đi tong, và nó sẽ chìm ngay nếu bị xê dịch. Thu nhập hiện thời của Snake và Eddie trông cả vào việc lởn vởn ở mấy bãi đỗ xe khu Coconut Grove, canh me chiếc ô tô du lịch nào trờ tới là xáp vô, mau mắn hướng dẫn tài xế đỗ xe, khoa tay khí thế như thể đó là những ám hiệu phức tạp cần phải được thực hiện tuyệt đối chính xác, như hạ cánh tàu con thoi không bằng. Đoạn Snake và Eddie sẽ xán lại các du khách, xun xoe chờ tiền típ, thứ mà họ lúc nào cũng xì ra cho tụi nó, nhất là vào những lúc tối trời.

    Puggy đoán Snake và Eddie là khách quen ở Jolly Jackal, bởi bọn chúng vừa mò vào là gã bán bar đã sấn sổ tiến tới, chỉ tay ra cửa, nói: “Cút! Tao đã cảnh cáo bây rồi! Cút!”

    “Không, không, ông bạn, không,” Eddie giơ hai tay lên trước ngực, ra điệu đến trong hòa bình. “Gì mà căng thế, tụi này chỉ muốn giải khát thôi mà. Tiền có đây chớ không đâu.” Đoạn nó dò dẫm trong cái quần soóc rách bem, moi ra mấy đồng một phần tư đô, mấy đồng cắc và xu, thả rỏn rẻng lên quầy bar.

    Gã bartender lừ mắt nhìn đống bạc, không ừ hử gì.

    “OK?” Eddie nói, rục rịch đặt đít xuống cạnh quầy bar, cách Puggy một ghế về phía tay mặt. “OK,” nó lặp lại, yên chí gã bartender sẽ cho tụi nó ở lại. Snake ngồi xuống cái ghế bên tay mặt Eddie. Eddie trỏ vào mớ xu và nói, “Tụi tui uống hết chỗ này.”

    Gã bartender lẳng lặng kiểm tiền, vuốt những đồng bạc trên quầy vào bàn tay. Hắn quày quả lấy ra hai ly thủy tinh và làm đầy chúng với một thứ chất lỏng trong suốt rót từ một cái chai không nhãn mác, xong việc hắn trở lại chỗ gã râu xồm.

    “Chó đẻ,” Eddie bình phẩm, chỉ vừa đủ để Snake nghe.

    Sau khi xác định tình hình không đòi hỏi phải lánh nạn gấp, Puggy tiếp tục với chương trình đua xe bán tải trên TV. Puggy chưa bao giờ coi đó là một môn thể thao, nhưng chính sách của nó với TV là: TV chiếu cái gì nó coi cái đó.

    Chừng hai mươi phút sau thì nó nhổm dậy tính đi tè. Nó nhặt chỗ giấy bạc của mình lên, phát hiện vài tờ đã không cánh mà bay. Nó không biết đích xác bao nhiêu, nhưng ít nhất phải mười đô.

    Puggy đưa mắt sang phải. Eddie và Snake đang nhìn châm bẫm vào TV, coi bộ nhập tâm lắm, làm quá nó đang chiếu phụ nữ khỏa thân thay vì xe bán tải.

    “Ê nè,” Puggy nói.

    Eddie và Snake vẫn dí mắt vô màn hình.

    “Ê nè,” Puggy lặp lại.

    Thằng Snake vẫn ngồi im. Thằng Eddie quay qua, quắc mắt nhìn Puggy.

    “Chuyện gì đó, đại ca?” Nó nói.

    “Trả tui,” Puggy nói.

    “Trả gì?” Eddie nhăn mặt, ra bộ cóc hiểu Puggy đang nói gì, duy nó diễn hơi sâu.

    “Tui nói là, trả nó lại cho tui,” Puggy nói.

    “Mà trả cái đéo gì mới được chớ?” Eddie gắt. Coi, tới phiên thằng Snake ngóc đầu qua, hai thằng lục tục từ ghế đẩu xoay về phía Puggy.

    Bằng kinh nghiệm, Puggy biết điệu này dễ có nguy cơ ôm đầu máu lắm. Nó biết mình nên bấm bụng cho qua. Nó biết chớ, nhưng mà, thiệt tình ... mười đô.

    “Tui nói là,” Nó tiếp tục, “trả nó ...”

    Quả đấm của thằng Eddie không có sức sát thương mấy, bởi vẫn còn một ghế ngăn ở giữa, và nó chỉ trúng vào vai Puggy. Song cú ngã sau đó mới làm Puggy đau thấy mồ nội. Thôi xong, thằng Snake nhập cuộc: từ sau lưng Eddie nó vòng qua với bàn chân xỏ dép lào dậm huỳnh huỵch, cố nhắm vào mặt Puggy. Puggy thu tròn người lại, áp mặt vào chỗ tiếp giáp giữa quầy bar với sàn nhà, không có ý kháng cự, chỉ gắng chờ cho bão tố qua đi. Cái sàn nhà có mùi như một bãi nôn.

    Vừa lúc thằng Snake đang co cẳng lên trong nỗ lự thứ tư để dậm vào mặt Puggy, thì một tiếng “bong” chát chúa vang lên, Snake “á” lên một tiếng rồi đổ gục xuống sàn nhà. Ra gã bán bar vừa phang vào đầu nó bằng cái gậy bóng chày bằng nhôm. Đã chơi bóng chày bao giờ đâu, song cú vụt vừa rồi của hắn đâu thua gì tuyển thủ! Hắn ưa dùng chày nhôm hơn, bởi mấy cái bằng gỗ hay gãy quá, thay hoài mắc mệt.

    Snake nằm ngay đơ kể như yên, gã bán bar quay sang thằng Eddie, kẻ đang vừa lùi về phía cửa vừa đưa hai tay lên, bật lại chế độ sứ giả hòa bình.

    “Ông anh,” Eddie lắp bắp, “Có phải vấn đề của ông đâu nào.”

    “TỤI BAY chính là vấn đề,” gã bartender nồ, nhứ tới một bước. Rõ ràng hắn đang chờ Eddie bỏ chạy, ngặt nỗi thằng này không tính chạy. Bởi lẽ Eddie đã nhác thấy Snake – cái thằng rất có khiếu trong chuyện đập đầu người khác – đang lom khom gượng dậy từ sau lưng gã bartender, tay quơ lấy một chai bia của Puggy. Gã bán bar đâu có mắt sau lưng mà thấy được chuyện đó, nhưng Puggy thì có thấy, và chả hiểu nguyên do nào xui khiến, đến giờ cũng không, nó nhoài người đến vung chân trái quét một cú chí mạng vào chân phải Snake, chỗ ngay trên mắt cá chân nó. Một tiếng “rắc” rùng rợn vang lên, Snake rú lên thảm thiết và một lần nữa đọ sàn, chai bia rơi khỏi tay lăn lông lốc. Gã bán bar quay lại - thấy Snake đang quằn quại trên sàn, quay lại nữa - thấy Eddie đang quáng quàng chạy khỏi cửa, quay lại nữa - chuẩn bị xử lý Snake. Hắn khom người tới trước, hai bàn tay nắm cái chày đang cầm xẻng, thục một phát vào mạng sườn Snake.

    “Cút ngay!” Hắn nói.

    “Nó phang gãy chân tao rồi!” Snake léo nhéo.

    “Còn tao, tao phang nát gáo mày luôn,” Dứt lời gã bán bar siết chặt đầu chày, vụt một cú phong long, chờ đợi.

    “OK OK OK,” Snake đáp lia. Bám vào cái ghế đẩu để lấy điểm tựa, mắt vẫn nhìn chừng gã bán bar, nó gượng dậy rồi tập tễnh bước về phía cửa. Chặp ra đến ngưỡng cửa, nó quay lại chỉ tay vào Puggy, kẻ bấy giờ vẫn còn xãi lai dưới quầy bar.

    “Liệu hồn mày nghen,” Snake gầm gừ, “tao mà thấy cái mặt mày là tao giết.” Đoạn nó đẩy cửa, đi cà nhắc ra ngoài. Puggy thấy trời đã sập tối.

    Gã bán bar chờ thằng Snake đi khuất rồi quay sang Puggy.

    “Mày, cút luôn cho tao,” hắn nói.

    “Anh này,” Puggy lắp bắp phân bua, “Tui ...”

    “Cút,” hắn lại vụt hờ cái chày.

    Puggy nhổm dậy, mới hay đã tè luôn ra quần. Nó ngó lên quầy bar. Rồi xong, số tiền bầu cử của nó đã biến mất, sạch banh! Thằng Eddie ắt đã hốt hết trong lúc thằng Snake thực hiện màn dậm chân dậm cẳng kia, trật đường nào nữa.

    Trời hỡi,” Puggy than thở.

    “Còn chưa đi nữa?” gã bartender giục.

    Puggy đang thất thểu bước về phía cửa thì thốt nhiên, từ cuối quầy bar, gã râu xồm, kẻ đã theo dõi từ đầu chí cuối trận ẩu đả, ề à cất giọng bằng tiếng Anh: “Chú cứ ở lại chơi.”

    Gã bán bar liếc mắt sang gã râu xồm, khẽ nhún vai và nới lỏng cái chày.

    Puggy rầu rĩ nói, “Tui nhẵn túi rồi. Tụi nó lấy hết rồi.”

    Gã râu xồm phất tay, “OK mà. Quán đãi.”

    Nghe vậy Puggy nhỏn nhoẻn cười, “OK.”

    Chặp đang tu đến chai bia miễn phí thứ hai, lòng lại hoan hỉ với cách mọi sự diễn ra trong ngày hôm nay, trừ chuyện tè ra quần, thì Puggy lại nghe tiếng cửa xịch mở. Giật bắn người, nó đoán thằng Snake đang trở lại để giết mình, song đó lại là một gã vận com-lê, tay xách cặp táp. Gã com-lê thủng thỉnh đi đến cuối quầy bar và khởi sự trao đổi với hai gã kia bằng tiếng nước ngoài. Chợt gã râu rậm cất tiếng gọi Puggy.

    “Ê, muốn kiếm năm đô không?”

    “Muốn chớ,” Puggy đáp. Một đô thị đáng sống làm sao, Miami.

    Hóa ra công việc là khuân một thùng gỗ ra khỏi cốp xe của con Mẹc đang đỗ ngoài quán. Cái thùng nặng trời thần, nhưng Râu xồm và Com-lê chỉ lấy mắt ngó. Puggy và gã bán bar hai thằng hì hục khuân thùng vào nhà, qua quầy bar, qua cái nhà cầu, men theo hành lang đến một gian phòng mà gã râu xồm lày quày một chặp mới mở được, bởi có đến ba ổ khóa. Gian phòng lớn hơn Puggy tưởng, và có ba thùng gỗ nữa với kích cỡ khác nhau ở đó. Bọn nó đặt cái thùng xuống rồi trở ra ngoài. Gã râu xồm khóa cửa, rồi móc ra năm đô đưa cho Puggy.

    “Coi vậy mà khỏe gớm nhỉ,” gã tấm tắc.

    “Hình như vậy,” Puggy đáp. Mà đúng vậy thật, dù không nhiều người nhận ra điều đó, nó tuy lùn nhưng khỏe như trâu.

    “Mai ghé quán hen,” gã râu xồm nói. “Có thể anh lại có việc cho chú.”

    Và đó là ngày công đầu tiên của Puggy ở Jolly Jackal. Nó luôn đến vào buổi chiều và ở lại cho đến khi Leo (tên gã bán bar) hoặc John (tên gã râu rậm) cho nó về nghỉ. Những hôm không có việc, họ vẫn để nó ở lại quán ngồi chơi không. Khi cần nó lao động, đó luôn là việc khuân vác những cái thùng gỗ - lúc thì từ con Mẹc vô phòng; lúc thì từ phòng ra con Mẹc. Cứ mỗi lần xong việc, John lại đưa nó năm đô. Một lần, Puggy buột miệng hỏi có gì bên trong mấy cái thùng đó vậy. John đáp gọn lỏn: “Đồ nghề.”


    Phần lớn thì giờ, Puggy ngồi coi TV và uống bia, Leo không bao giờ tính tiền chỗ bia đó. Ta nói cứ như một giấc mơ vậy. Puggy mà biết có kiểu công việc như này, nó đã đi làm từ đời tám hoánh rồi.

    Về đêm, khi họ cho nó lui, nó lại cu ky lầm lũi trở về cái cây của mình. Nó đã tìm thấy cái cây này vào đêm thứ ba ở Coconut Grove. Hai đêm đầu nó ngủ chỗ công viên cạnh bờ biển, bị bọn kiến ác độc nào đó cắn bầm mình bầm mẩy. Chưa hết, vào đêm thứ hai, từ xa xa nó thấy bóng dáng cô hồn của Eddie và Snake tiến về chỗ neo đậu cái xuồng ba lá của tụi nó. Thằng Snake vẫn bước tập tễnh.

    Thành thử Puggy phải tìm một nơi lưu trú khác. Nó khám phá ra, chỉ cần bách bộ một quãng ngắn ở Coconut Grove, bạn đã lọt thỏm trong một khu dân cư hoàn toàn khác, khu của người giàu, với những ngôi nhà uy nghi bề thế bao bọc bởi tường cao, và cổng vào đóng mở bởi máy móc. Cây cối nhiều đến hoa cả mắt, những cái cây đồ sộ cầu kỳ với rễ tua tủa như những xúc tu, dây leo chằng chịt, và các cành cây như những cánh tay dài ngoằng vươn ra tận đường phố. Puggy ngỡ như đang lạc trong rừng rậm.

    Nó tìm được một cái cây hoàn hảo để tá túc. Lừng lững sau bức tường của một nhà giàu, ngăn cách giữa cái cây và ngôi nhà là một khoảng sân vườn rộng lớn um tùm, nên sự riêng tư nhờ đó được bảo đảm. Puggy tiếp cận cái cây bằng cách leo qua bức tường; nó là một tay leo trèo bẩm sinh, kể cả sau khi đã nốc bia ứ hự. Ở độ cao sáu mét so với mặt đất, tại nơi mà ba cành to gộc trổ ra từ thân cây, có một sàn gỗ ọp ẹp đóng đầy rêu mà nhiều năm trước từng là nhà trên cây của tụi con nít. Puggy sửa sang tệ xá với vài mảnh cạc tông xếp lên sàn gỗ, và một tấm nhựa dẻo lấy từ công trường, phòng khi trời mưa còn có cái đắp. Đôi khi nó nghe thoang thoáng tiếng người nói chuyện trong nhà, nhưng dù có là ai, họ cũng không khi nào léo hánh đến chỗ cuối sân này.

    Vào đêm khuya, luôn có tiếng nhạc vọng ra từ phía cuối ngôi nhà. Nghe như một tiếng sáo êm dịu len lỏi qua cánh rừng để đến với Puggy. Nó thích nằm dài và lắng nghe tiếng nhạc ấy. Lòng dạt dào hoan hỉ với cách mọi sự đang diễn ra, với công việc và với cái cây của nó. Đó là sự tồn tại an toàn nhất, quy củ nhất, êm lắng nhất mà nó từng được nếm trải. Cảnh đời an yên đó kéo dài xấp xỉ ba tuần.



    “Tôi NHÌN LÒI MẮT cái quảng cáo này,” Khách Hàng Âm Binh Phì Lũ nói, “cóc thấy Bia Đầu Búa ở đâu hết.”

    Eliot Arnold, thuộc phòng Quảng Cáo và Quan Hệ Công Chúng Eliot Arnold (nhân sự chỉ độc nhất Eliot Arnold), gật đầu với vẻ trầm ngâm, như thể cho rằng quan điểm Khách Hàng Âm Binh vừa nêu cũng có lý. Sự thực Eliot đang thấy may vì mình thuộc nhóm thiểu số ở Miami không bọc sẵn súng đạn theo người, bởi ngay lúc này anh chỉ muốn nổ vài phát vô cái thằng Khách Hàng Âm Binh này, ngay cái trán mập láng vo của nó.

    Những lúc như lúc này – và không hiếm gì những lúc như lúc này – Eliot lại tự vấn lòng: phải chăng mình đã quá bốc đồng, chuyện chia tay nghề báo ấy? Mà cái cách anh chia tay thiệt hổng giống ai - vung chân đạp xuyên máy tính của thư ký tòa soạn. Quả thực anh đã thiêu rụi một cây cầu ở đó.

    Eliot đã dành hăm mốt năm đời mình cho nghề báo. Dự định của anh sau khi ra trường là đấu tranh cho Công Lý, với vốn liếng là kỹ năng Anh Ngữ của mình để tìm và diệt tham nhũng. Anh tìm được việc tại một nhật báo nhỏ, lãnh phận sự viết cáo phó và ghi lại diễn biến các buổi họp thành phố, nơi các quan chức dân cử sở tại cùng các tư vấn viên kỹ thuật thao thao bất tuyệt hàng giờ về đường kính cần thiết cho loại ống cống mới. Eliot vừa dỏng tai nghe, vừa chúi mặt vào cuốn sổ tay nhà báo có gáy lò xo và hình bìa nhí nhố, đồ rằng tham nhũng ắt đang diễn ra ở đâu đây, song phải khởi sự truy lùng từ đâu thì anh mù tịt.

    Đến khi trở thành ký giả của một tờ báo đô thị tầm cỡ, anh đã xếp xó ý định lùng diệt này kia và xây được chỗ đứng dễ chịu với việc viết truyện phóng sự, thứ mà hóa ra anh rất mát tay. Xuân Hạ Thu Đông, anh viết lách quần quật như thợ hồ đắp gạch. Thường toàn về những thứ mà các sếp ở tòa soạn, bằng giọng điệu bố đời, gọi là những câu chuyện “đặc tuyển.” Phóng sự văn học là thể loại họ cổ súy mạnh, những câu chuyên với lu bù người thật việc thật, được viết theo nhóm, đăng thành năm hoặc sáu kỳ với nhan đề không bao giờ thiếu từ “khủng hoảng”. Này “Khủng hoảng trong các gia đình,” này “Khủng hoảng trong các trường học,” “Khủng hoảng nguồn nước,” muôn trùng khủng hoảng. Những loạt bài này rất được o bế và thường ăn giải ở các cuộc thi báo chí, dù đám thảo dân ở tòa soạn quen gọi chúng là ba cái thứ “cứt trâu”. Duy các sếp thì mê mẩn chúng. Báo chí vận động, họ xướng tên nó như thế. Xu hướng nóng hổi nhất của ngành báo. Làm nên khác biệt! Kết nối với độc giả!

    Eliot nghĩ làm gì có độc giả nào để kết nối ngoài mấy cha trong ban giám khảo ra. Ấy thế mà nghiệt thay, những thứ cứt trâu đó đổ xuống đầu anh càng lúc càng nhiều, và chẳng còn mấy thời gian để anh viết nên những câu chuyện mà theo anh sẽ có người muốn đọc.

    Niệm khúc cuối đến vào cái ngày anh được gọi lên văn phòng của thư ký tòa soạn, Ken Deeber, kém Eliot bảy tuổi. Eliot nhớ hồi Deeber còn là một phóng viên chịu chỉ định bình thường, vừa ra khỏi lò Princeton. Nó nói chuyện dẻo đeo và phong thái thì lịch duyệt miễn chê. Và trăm lần như một, luôn có một chi tiết sai sự thật thè lè trong mọi thứ nó viết, dù có ngắn đến đâu đi nữa. Duy thằng Deeber không viết nhiều lắm; nó bận tối mắt để đi giăng mạng lưới quan hệ rồi. Deeber thăng tiến với tốc độ của ngư lôi Polaris, vỗ ngực xưng danh là thư ký tòa soạn trẻ nhất trong lịch sử báo chí. Thằng này tôn thờ phóng sự văn học. Đó là lí do nó cho gọi Eddie lên văn phòng.

    “Khỏe chứ, Eliot?” Deeber mào đầu. “Hổm rày sao rồi?”

    “À,” Eliot nói, “Tôi cũng ...”

    “Sở dĩ tôi hỏi vậy,” Deeber ngắt lời, nó hơi đâu đi lo tình hình sức khỏe của Eliot, “là vì John Croton bảo tôi anh chưa nộp bài cho dự án nhà trẻ.”

    Nhà trẻ là đống cứt trâu đang triển khai. Nó sẽ trình bày cặn kẽ với độc giả trong năm kỳ với mười bốn biểu đồ màu, ấy là đang có một cuộc khủng hoảng ở các nhà trẻ.

    “Ken này,” Eliot nói, “Hình như đã có năm người khác đang làm ...”

    “Eliot,” Deeber nghiêm giọng, như một bậc phụ huynh đang răn dạy đứa con ngỗ ngược, “Đó là phần sự của anh mà.”

    Phần sự của Eliot là viết một khung báo nêu lên góc nhìn của cộng đồng người Haiti về các nhà trẻ. Debeer tin rằng mọi câu chuyện đều nên chứa đựng mọi góc nhìn của mọi nhóm sắc tộc. Cầm tờ báo trên tay, nó không thực sự đọc gì đâu, nó đếm các nhóm sắc tộc. Lúc nào cũng thấy nó lăng xăng đi phát các tờ giấy nhắc nhớ, kiểu như: Xét câu chuyện ‘cá sấu tấn công người chơi golf ngày một nhiều’ đang rất thức thời và chứa nhiều thông tin bổ ích, tôi kiến nghị nên đưa vào đó góc nhìn của dân Mỹ Latinh. Lí do xe ô tô của Deeber chưa bị gài bom là bởi bọn ký giả dở ẹc về kỹ năng đó.

    “Công nhận, tôi đã được phân công,” Eliot nói. “Ngặt là tôi còn đang kẹt câu chuyện ...”

    “Câu chuyện bồ nông?” Deeber cười mỉa. Eliot tự hỏi ở Princeton họ có khóa dạy cười mỉa không, bởi thằng Deeber cực xuất chúng khoản đó.

    “Ken,” Eliot nói, “đây là câu chuyện tuyệt đỉnh, và không ai khác có nó đâu. Ông cụ này, một cụ già người Cuba ở Key West, ổng huấn luyện bồ nông để...’

    “Đánh bom,” Deeber cười khinh bỉ. “Đó là thứ ngu ngốc nhất tôi từng nghe.”

    “Ken,” Eliot kiên nhẫn. “Ông già này cháy lắm. Ổng huấn luyện bồ nông để ám sát Castro, dóc làm chó. Ừ thì kế hoạch thất bại, chắc quả bom bị trục trặc hoặc con bồ nông bấn loạn sao ấy, nhưng sự thật cái thứ đó đã nổ tung ngoài một khách sạn ở trung tâm Havana. Các mẩu mảnh của con bồ nông bắn ra, rớt lụi đụi xuống một đoàn du khách Pháp. Và chính phủ Cuba đổ thừa cho biến đổi khí ...”

    “Eliot,” Ken phẩy tay, “Tôi không nghĩ chúng ta phục vụ bạn đọc những loại chuyện đó.”

    “Nhưng nó có thật,” Eliot hổn hển, máu nóng dồn lên mặt, những muốn chồm dậy thộp cổ thằng Deeber. “Đó là một câu chuyện vĩ đại. Ông cụ đã nói chuyện với tôi, và ổng ...”

    “Eliot,” Deeber nói, “Anh có biết dự án nhà trẻ quan trọng thế nào với bạn đọc của ta không? Anh có biết bao nhiêu bạn đọc của ta gửi con trẻ ở nhà trẻ, có biết không?”

    Một thoáng im lặng.

    “Ken,” Eliot nói, “anh có biết bao nhiêu bạn đọc của ta có lỗ đít không?”

    Deeber ậm ừ, “Tôi không thấy có ...”

    “Tất cả họ!” Eliot rống lên. “Tất cả họ đều có có lỗ đít!”

    Lớp tường kính văn phòng Deeber sức mấy ngăn nổi mấy cái tai hóng hớt trong tòa soạn. Những cái đầu cùng ngoái về chỗ tiếng hét vọng ra.

    “Eliot,” Deeber đanh giọng, “Tôi lệnh cho anh, ngay bây giờ ...”

    “Làm luôn loạt bài về nó coi sao!” Eliot rống lên. “KHỦNG HOẢNG HẬU MÔN!”

    Deeber, ý thức được quần thần đang nhòm ngó, cố nặn ra vẻ mặt nghiêm khắc nhất có thể.

    “Eliot,” nó dõng dạc. “Anh làm việc cho tôi. Tôi bảo gì anh làm nấy. Tôi đã giao bài cho anh. Nếu còn muốn làm việc tại tòa soạn này, liệu mà hoàn thành nó và để nó vô đây” – nó chỉ vào cái máy tính bàn – “không xong thì đừng có về nhà đêm nay.”

    “Tốt thôi!” Eliot nhún vai, đoạn đứng phắt dậy rồi đùng đùng tiến đến chỗ bàn giấy của Deeber. Deeber hết hồn, lật cập thụt ghế lại, va phải cái tủ credenza sau lưng làm đổ tháo tùm lum mớ bằng khen từ các cuộc thi lều báo.

    Eliot nói: “Hay để tao gửi nó qua BÂY GIỜ luôn cho khỏe!”

    Dứt lời, anh vung chân trái nhắm thẳng màn hình máy tính của Deeber, đạp một phát. Bàn chân kẹt luôn trong đó, thành thử khi anh cố rút nó ra là nguyên cái màn hình đi theo luôn, đánh rầm xuống nền nhà. Rộ lên trong tòa soạn những tiếng vỗ tay tán thưởng, ngắn ngủi nhưng không kém phần nồng nhiệt.

    Trừ lần một thằng nhân viên vận tải say xỉn lái chiếc xe nâng 43 nghìn đô xuống đầm phá Biscayne Bay, chưa ai bị tờ báo sa thải chóng vánh như Eliot. Các đồng nghiệp bày tỏ sự cảm thông và ủng hộ; Eliot đã trở thành một kẻ sĩ được kính phục trong dư luận giới ký giả toàn quốc. Nhưng cũng khá chắc là tên anh bị liệt vô sổ đen của mọi cơ quan báo chí, nhất là ở Miami. Ngặt nỗi anh muốn ở lại đây để có thể gần bên thằng con trai, Matt, nó hiện ở với vợ cũ của Eliot.

    Vậy là Eliot ký giả trở thành Eliot Quảng Cáo và Quan Hệ Công Chúng, hành nghề trong một văn phòng còm hom ở Coconut Grove. Thời kì đầu, Eliot phải loanh quanh sớm tối để năn nỉ thiên hạ làm khách hàng của mình. Sau nhiều năm phấn đấu không ngừng, Eliot có tấn tới chút đỉnh, giờ thì anh sớm tối loanh quanh để năn nỉ thiên hạ trả nợ. Hoặc chuyện đó, hoặc ngồi nghe họ lý giải vì sao công sức của anh không được chấp nhận. Đó chính là điều Khách Hàng Âm Binh đang làm.

    Sáng kiến mới đây nhất của Khách Hàng Âm Binh là Bia Đầu Búa, thứ mà lần đầu tiên và duy nhất Eliot nếm thử, anh đã phải khạc ngay lên bàn giấy bởi mùi vị kinh tởm của nó. Bia Đầu Búa là sáng kiến còn tệ hơn cả dự án trước đó của Khách Hàng Âm Binh, một loại công viên chủ đề cho người cao tuổi có tên Răng Giả Phiêu Lưu Ký.

    Mà thôi, nói gì nói thằng này lâu lâu cũng chịu trả tiền, vậy nên Eliot đã lọ mọ triển khai một ý tưởng quảng cáo cho thứ bia này. Khách Hàng Âm Binh quan sát nó, và như thường lệ đưa ra lời phê bình rất có tâm.

    “Như cái buồi,” hắn nói.

    “Ây dà, Bruce,” Eliot nói, “tôi đã cố...”

    “Nghe đây,” Khách Hàng Âm Binh ngắt ngang, hắn không tin vào việc để người khác nói hết câu, một khi vẫn còn ý tưởng nào nổi trôi trong đầu mình. “Anh biết triết lí kinh doanh của tôi là gì không?”

    Biết chớ, Eliot nhủ thầm. Triết lí kinh doanh của mày là bào tiền từ lão cha giàu sụ của mày và xả nó vào mấy cái ý tưởng tào lao xịt bộp.

    “Không, Bruce,” anh ậm ừ, “Triết lí của anh ...”

    “Triết lí kinh doanh của tôi,” Khách Hàng Âm Binh dõng dạc, “đó là có rất nhiều người trên thế giới này.”

    Để minh họa cho quan điểm, Khách Hàng Âm Binh phác cử chỉ hướng về phía thế giới. Không có động tĩnh gì tiếp theo. Eliot kiên nhẫn chờ đợi phần mở rộng nào đó.

    “Chà,” sau cùng Eliot lên tiếng, “hẳn là...”

    “Và,” Khách Hàng Âm Binh tiếp tục, hắn đã me đúng lúc Eliot mở miệng để cắt lời, “tất cả bọn họ đều MUỐN gì đó. Anh biết họ muốn gì không?”

    “Không,” Eliot đáp. Đối sách của anh là đi với những câu ngắn.

    “Họ muốn cảm thấy sướng,” Khách Hàng Âm Binh phán.

    Lại im lặng nguy hiểm.

    “Ồ,” Eliot nói.

    “Anh hiểu tôi muốn nói gì chớ?” Khách Hàng Âm Binh nhìn trừng trừng Eliot.

    “Ờ,” Eliot giả lả, “Chắc là ...”

    “KHÔNG, ANH ĐẾCH HIỂU TÔI NÓI GÌ ĐÂU!”, Khách Hàng Âm Binh gầm lên, thấy vui trở lại vì đang được dịp bắt nạt một con người đang cần đến tiền của hắn, với hắn đó là thú vui không gì sánh nổi của sự giàu sang. “Bởi tôi đã dâng tận miệng anh cái ý tưởng hoàn hảo cho Bia Đầu Búa. Ý tưởng hoàn hảo! Không phải thứ cứt đái này.” Hắn phẩy tay xì xì, như thể đang đuổi ruồi, vào bản phác thảo mà Eliot đã thức đêm thức hôm để làm. Nó được đính trên một tấm bảng, bức hình cận cảnh một con cá mập đầu búa, với cái mồm há rộng giữa hai nhãn cầu cổ quái nằm cách xa nhau một cách phi lý. Dưới bức hình là hai hàng chữ đen và đậm:


    Cá xấu.

    Bia ngon.


    “Cái quần què đây?” Khách Hàng Âm Binh xẵng giọng. “Xấu? Mắc gì có xấu ở đây hả cha?”

    “À cái đó,” Eliot chống chế, “Thì tôi dùng phép tương phản ấy mà, nhưng theo hướng hài hước ...”

    “Nghe đây,” Khách Hàng Âm Binh nói, với hắn khái niệm về hài hước - hắn có luôn băng video gối đầu giường về nó - là cảnh nửa chân dưới lủng lẳng sắp đứt lìa của Joe Theisman. “Tôi không muốn cái xấu. Xấu không phải cảm giác mà tôi mong chờ. Tôi đã cho anh ý tưởng! Tôi đã cho anh ý tưởng hoàn hảo!”

    “Bruce, tôi đã bàn với luật sư về ý tưởng của anh, ổng bảo chúng ta khéo bị kiện sấp mặt vì ...”

    “PHÊ VỚI ĐẦU BÚA!” Khách Hàng Âm Binh rống lên, nắm tay tròn vo đeo Rolex nện bụp bụp lên bàn giấy. “Đó chính là ý tưởng!”

    Chợt hắn vùng phắt dậy, giang rộng hai cánh tay nung núc để giúp Eliot tiện hình dung. “Anh có một đôi nam nữ trên một chiếc thuyền. Con nhỏ mặc bikini, vú bự, hai đứa đang trên thuyền, và hai đứa đang phê lòi càng. Với bia Đầu Búa! Cảm giác nó mang lại là gì? Là có kẻ sắp sửa được chịch chớ gì nữa! Hậu cảnh là một con cá mập đang bơi quanh! Con nhỏ có vếu to VẬT. Bá cháy bọ chét. Tôi dâng cho anh ý tưởng bá cháy, anh thảy cái xấu cho tôi! Đừng mơ tôi trả đồng nào cho thứ này, gì chứ xấu là đây miễn trả tiền. Đây có thể có cái xấu miễn phí.”

    Thì mày là hiện thân của nó mà! Eliot rủa thầm. Điều anh nói là: “OK, tôi sẽ cố gắng ...”

    “Đừng! Đừng cố gắng với tôi. Đừng cố gắng. Tôi ghét cố gắng. Cố gắng chỉ dành cho lũ thất bại,” Khách Hàng Âm Binh, người có toàn bộ triết lí sống thuổng từ các quảng cáo của Nike, nói như đang hát. “Để tôi cho anh biết.” Hắn gõ gõ ngón tay lên bàn (đến mấy cái móng tay của hắn trông cũng béo nguậy). “Anh không phải phòng quảng cáo duy nhất ở thành phố này đâu.”

    Ông nội cha thằng nào dám quảng cáo cho mày ngoài tao ra nữa, kẻ đã mấy tháng rồi chưa nộp tiền cấp dưỡng, Eliot rủa thầm.

    “OK, Bruce,” anh nói.

    “Tôi muốn thấy nó VÀO NGÀY MAI,” Khách Hàng Âm Binh nói.

    Mình có thể kiếm được súng vào ngày mai, Eliot trù tính. Với cả mấy viên đạn đầu rỗng.

    “OK, Bruce,” anh nói.

    Chợt điện thoại reo. Eliot nhấc máy.

    “Eliot Arnold nghe.” Anh nói.

    “Tối con qua lấy xe nha ba,” Matt nói, nó là con trai Eliot và nó mười bảy tuổi, nghĩa là nó quá bận để nói một tiếng chào.

    “Chào Nigel!” Eliot nói rổn rảng. “London vui không? Chờ tôi xíu nghen?”

    “Nigel?” Matt nói.

    “Bruce này,” Eliot nói với Khách Hàng Âm Binh, “Tôi phải tiếp chuyện với một khách hàng ở London về ...”

    “Nhớ mai là có cho tôi đó, lần này làm cho đàng hoàng vào,” Khách Hàng Âm Binh nói, đoạn lấy tay hất cánh cửa văn phòng Eliot và thủng thẳng bước ra, chả buồn khép lại. Đoạn từ hành lang – sát ngoài văn phòng kế bên của gã kiểm toán viên luôn càm ràm mỗi lần Eliot bật nhạc – hắn hét vô ông ổng: “NHỚ KIẾM CON NÀO VÚ BỰ NHEN!”

    “Cảm ơn đã ghé qua, Bruce!” Eliot nói về phía cánh cửa mở. “Của anh coi như xong rồi đó!” Đoạn anh nói vô ống nghe: “Matt?”

    “Ai vú bự vậy ba?” Matt hỏi.

    “Ai đâu,” Eliot nói.

    “Ủa mà Nigel là ai?”

    “Không ai hết, ba phịa ra Nigel để khách hàng khỏi nói mình vì chuyện riêng mà xao lãng đó thôi.”

    “Thằng cha vụ bia bọt gì đó đúng không ba?”

    “Thì nó chớ ai nữa.”

    “Sao ba không tống phứt ổng đi cho rồi?” Matt nói.

    “Matt,” Eliot hắng giọng, “con biết là tiền đâu có ở trên ...”

    “Vậy ha,” Matt vội cắt lời, nó đâu muốn lãng phí thì giờ không đi học quí báu của mình để nghe giảng đạo, nhất là mấy bài quá nhàm kiểu này, “con mượn xe ba tối nay nha?”

    “Chi vậy?” Eliot hỏi.

    “Con và Anrew phải đi giết một con nhỏ,” Matt nói.

    “OK,” Eliot nói, “làm gì làm nhớ mười rưỡi về trả xe cho ba, và con phải hứa lái cho thật ...”

    “OK cám ơn ba,” Matt cúp máy. Một người đàn ông bận rộn.

    “... cẩn thận,” Eliot nói, với cái điện thoại lặng câm.



    DỌN RỬA XONG XUÔI sau bữa cơm tối, Nina thoái lui về phòng mình - gọi là “không gian của người giúp việc” cho oai, chứ nó chỉ là một gian phòng nhỏ với buồng tắm bé tí. Cô thận trọng khóa cửa lại, đã ba tháng nay cô luôn cảnh giác chuyện cửa nẻo, từ cái bận lão Herk đêm hôm sinh chứng bất tử mò vào phòng cô. Đúng lúc cô đang thay đồ nữa mới nghiệt, trên người chỉ tòn ten hai mảnh đồ lót. Phòng mình mà lão cứ khơi khơi đẩy cửa, bước vô như đúng rồi.

    Nói chuyện lúc ấy lão đứng giữa phòng với ly vang đỏ trên tay, miệng cười cười. Nina chụp vội cái áo choàng trên giường, che trước người.

    “Ày, không có gì đâu, Nina,” lão trấn an. “Tôi chợt nghĩ cô có muốn làm tí vang thư giãn không thôi ấy mà. Thấy cô làm cực quá, tội nghiệp.”

    Nina biết lão quỉ này đâu có tốt bụng sảng vậy. Cô dư biết lão muốn gì qua cái cách lão địa cô, nhất là những khi rượu vào. Lão còn cái tật thích ló vào bếp khi cô chỉ có một mình, tò tò xáp lại gần cô một cách lãng xẹt, rồi chẳng nói chẳng rằng, cứ đứng ì ra đấy mà nhìn cô.

    Áp chặt chiếc áo choàng vào người, cô nói, “Dạ thôi, cảm ơn ông, ông Herk. Tôi mệt lắm.”

    Lão khép cửa lại, lững thững bước về phía cô. “Thư giãn tí mà,” lão nói, ấp bàn tay lên bờ vai trần của cô, rồi thình lình để nó trôi tuột xuống ngực cô. Bàn tay lão nhèm nhẹp mồ hôi.

    Nina thụp người né khỏi bàn tay nhám nhúa, đoạn thụt lui về phía phòng tắm.

    “Ông Herk,” cô nói, “Tôi không nghĩ bà Anna sẽ vui khi biết ông đang ở đây đâu.”

    Chợt khuôn mặt lão trở nên nghiệt ngã. “Bả ngủ rồi,” lão nói. “Và tôi không tính chạy đi báo cáo bả biết mình ở đây. cũng sẽ không báo cáo chớ, Nina?”

    Không, cô sẽ không báo cáo. Bề gì lão cũng là chủ ngôi nhà này, và cô chỉ là phận đầy tớ, và sự hiện diện của cô ở quốc gia này là trái pháp luật, và cô không có nơi nào để nương náu cả.

    “Cảm phiền ông,” vừa dứt lời Nina quay phắt người lại, chạy ù vào buồng tắm, dập cửa bấm chốt.

    Cái nắm cửa rung lên cành cạch khi lão Herk ra sức vặn nó.

    “Nina,” lão xẵng giọng, “ra coi.”

    Nina nhìn cái nắm cửa, nín thở. Cảm thấy mồ hôi của lão còn nhơn nhớt trên cơ thể mình, chỗ mà lão sờ cô.

    “Nina,” lão tăng âm lượng, “đây là nhà tao, mày làm công cho tao, tao muốn mày bước ra ngay.”

    Nina nhìn cái nắm cửa.

    “Con giặc cái,” lão rủa.

    Nina nghe tiếng thủy tinh vỡ, rồi đến tiếng cánh cửa hành lang bật tung. Cô đợi thêm một lát rồi mở cửa buồng tắm bước ra. Coi, một vết đỏ sẫm lồ lộ chính giữa tấm ga giường, chỗ mà lão đã đổ ly rượu vang xuống. Cái ly thì lão đã giáng cho vỡ vụn trên sàn nhà. Cô bị xước chân khi dọn dẹp các mảnh thủy tinh.

    Ngày hôm sau, khi cô bưng cà phê cho lão, với bà Anna ở đó, lão làm mặt tỉnh bơ như không có gì xảy ra. Duy cô vẫn thấy lão tranh thủ địa mình. Và cô giữ cho cửa phòng luôn khóa. Cô không mê gì lão Herk, song cô cần công việc này. Cô cần kiếm đủ tiền mướn luật sư để có thể trở nên chính danh, và sau đó cô sẽ đưa mẹ và em trai mình đến Mỹ.

    Nói chớ làm việc ở đây cũng không đến nỗi nào. Ngôi nhà như một tòa lâu đài, và bà Anna rất tốt bụng, rất dễ thương. Nina không hiểu nổi vì cớ gì lão Herk lại đối xử tàn tệ với một phu nhân cao quí nhường vậy. Nina đã từng nghe lão quát nạt bà, gọi bà bằng những cái tên tục tĩu, làm bà khóc. Nina biết đôi lúc lão còn thượng cẳng chân hạ cẳng tay với bà.

    Bà Anna đối xử với Nina tốt khỏi nói. Jenny, con gái bà cũng vậy, dù chủ yếu cổ cứ ru rú trong phòng mình, nấu cháo điện thoại, nghe thứ âm nhạc của cổ, thứ mà Nina nghe như tiếng la hét của những con người giận dữ. Cô không mường tượng nổi vì cớ gì người ta lại thích nghe tiếng la hét của đồng loại.

    Nina thích nghe tiếng sáo của quê hương cô, qua những cuộn băng cát-xét cô mở bằng cái máy Fisher-Price của Jenny hồi cổ còn nhỏ. Vào buổi đêm, Nina mở cửa sổ phòng (cô không ưa máy điều hòa không khí), tắt đèn và nằm dài xuống giường, thả hồn theo tiếng nhạc. Nó giúp cô cảm thấy bớt cô đơn.

    Phía bên kia sân vườn, trong cái cây của nó, chìm đắm trong tiếng nhạc của Nina, Puggy cũng cảm thấy niềm cô độc như dịu dàng hơn.



    MATT ĐÓN Andrew lúc 8 giờ 40.

    “Em chó lửa đâu mày?” Andrew hỏi.

    “Trong cốp xe,” Matt nói. “Ế. Tao khoái bài này.” Nó vặn volume dàn stereo lên hết nấc, bài đang được bật là “Sex Pootie,” của một ban nhạc có tên Seminal Fluids. Lời bài hát như sau:


    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Và cứ thế.

    “Sex pootie là cái gì vậy?” Andrew hỏi.

    “Chứ mày nghĩ nó là cái gì?” Matt khinh khỉnh, dù thực tình nó cũng chả biết sex pootie là cái quái quỉ gì. Nó lảng sang chuyện khác: “Dàn âm thanh này như hạch.” Matt có sự khinh bỉ không hề nhẹ cho bất cứ dàn âm thanh nào không đủ lớn để khiến trâu bò bất tỉnh.

    “Sao ông ba mày lại tậu một con Kia nhỉ?” Andrew thắc mắc.

    “Bởi ổng bị cù lần chớ sao nữa,” Matt giải thích.

    Andrew gật đầu thông cảm. Bởi ba nó cũng là một gã cù lần. Hỏi ra mới biết hầu như cha đứa nào cũng cù lần một cây hết. Matt và Andrew không khỏi kinh ngạc khi thế hệ của tụi nó lại chất đến vậy.

    “Hi vọng nhỏ Jenny không thấy cái xe này,” Matt nói.

    Jenny là đứa con gái mà tụi nó sắp hạ thủ. Matt nghĩ cô nàng thật quyến rũ. Cô học chung lớp sinh học với nó ở Trung Học Southeast, và nó dành gần hết thì giờ trên lớp để ngắm cô trong khi làm bộ ngó biểu đồ tuyến tụy hay mấy thứ nội tạng khác. Nó đã vặn óc đủ cách để bắt chuyện với cô, song vẫn chưa tìm được phương kế nào khả thi. Nhưng chỉ lát nữa thôi, nó sẽ chính tay hạ sát cô, nó nghĩ điều này có thể phá vỡ được lớp băng.

    Matt được chỉ định giết Jenny bởi Evan Hanratty, một nam sinh Trung Học Southeast, người chủ trì phiên bản năm đó của trò Killer. Killer là trò chơi đến hẹn lại lên ở nhiều trường trung học; bị ban giám hiệu các trường kịch liệt lên án và cấm ngặt, nên khỏi nói là tụi học sinh đứa nào chả thích chơi.

    Có nhiều phiên bản khác nhau của trò chơi, nhưng chung qui là vầy: Bạn trả cho người chủ trì một khoản tiền (ở trường của Matt là mười đô để trở thành người chơi). Người chủ trì sau đó bí mật tiết lộ với bạn tên của một người chơi khác; và bạn phải đi tìm giết kẻ đó. Cùng lúc, bạn trở thành mục tiêu săn lùng của một kẻ không rõ danh tính khác.

    Vào thời điểm được ấn định, trò chơi sẽ chính thức khai màn, và cuộc tàn sát bắt đầu. Sau mỗi vòng, những kẻ sống sót sẽ được giao những mục tiêu mới; cứ thế cho đến khi sát thủ cuối cùng còn sống sót nhận được phần thưởng bằng tiền mặt của người chủ trì.

    Các vụ sát nhân được thực hiện bởi súng nước. Để vụ sát nhân được công nhận, bạn phải phun nước vào nạn nhân với sự hiện diện của một nhân chứng – nhưng chỉ một nhân chứng thôi. Nghĩa là gần như không có cửa hạ thủ ở trường, hoặc nơi công cộng như trung tâm mua sắm. Phải đánh lén, đánh du kích, thường thì ngay tại nhà nạn nhân luôn.

    Nhiều đứa lôi kéo phụ huynh vào trò này. Nó sẽ nhờ mẹ chở mình đến nhà nạn nhân; rồi phục sẵn trong bụi cây, trong khi bà mẹ điềm nhiên bấm chuông cửa và hỏi nạn nhân có nhà không. Khi nạn nhân mở cửa cũng là lúc sát thủ vọt ra khỏi bụi cây, khai hỏa, à quên, khai thủy khẩu súng.

    Matt và hội bạn của nó cho rằng quá đê tiện khi sử dụng mẹ mình để giết ai đó. Tụi nó thích phục kích về đêm hơn, hành động dưới sự chở che của bóng tối, khi bạn có yếu tố bất ngờ, và có khả năng (ai biết được) bắt gặp mục tiêu đang khỏa thân.

    Matt đỗ chiếc Kia của bố nó cách nhà Jenny hai con đường. Nó mở cốp xe và lấy ra khẩu SquirtMaster Model 9000, loại đỉnh của dòng súng nước, 33.95 đô ở cửa hàng Toys R Us. Nhìn nó in hệt vũ khí giết người thứ thiệt, chứa tới bốn lít nước; và có thể bắn một tia nước đi xa mười lăm mét.

    Matt và Andrew sải những bước dài xuyên qua màn đêm ẩm ướt, đến trước lối vào nhà Jenny. Tụi nó không chạm trán bất cứ ai trừ bọn muỗi; đây là khu đắt đỏ của Coconut Grove, đêm lại là ai ở yên nhà nấy.

    Nhà Jenny to phải biết, duy từ đường phố nhìn vào chỉ thấy nó lấp ló sau đám cây lá rậm rịt. Một tường gạch cao hai mét bao quanh tư gia, và án ngữ trước lối vào là một cổng thép cơ giới. Một máy nội đàm được đặt sát bên cổng.

    “Kế hoạch ra sao?” Thằng Andrew thì thầm. “Mày có định bấm chuông?”

    “Lãng xẹt,” Matt gạt phắt. “Muốn tao nói gì? ‘Chào cô! Con là Matt Arnold, tới để giết Jenny ạ?’ Phải leo tường thôi.”

    “Lỡ họ nuôi chó sao mày?” Andrew lo lắng.

    “Tao thích chó,” Matt nói, nhưng bụng thì bảo dạ: chết cha, lạy trời họ không nuôi chó.

    Hai đứa đi men theo bức tường ra đến mặt sau của tư gia. Tại đó, cạnh một cây lớn, tụi nó tìm được một chỗ gần với bức tường coi bộ cũng dễ leo. Matt đưa khẩu SquirtMaster cho thằng Andrew rồi leo qua tường trước; Andrew liệng khẩu súng qua rồi làm theo Matt. Đột nhập thành công, chúng đứng im một lát, dỏng tai hóng tiếng chó sủa, nhưng chỉ nghe văng vẳng tiếng nhạc sáo. Với Matt dẫn đường, hai thằng rón rén tiến bước về phía ngôi nhà.

    Phía trên đó sáu thước, Puggy dõi theo bóng dáng hai kẻ cầm súng mất hút trong đám thực vật um tùm. Vụ gì đây không biết. Đây là cặp đôi có vũ trang thứ hai nó bắt gặp đã leo qua bức tường này, trong nửa giờ qua.

    ---
     
    Chỉnh sửa cuối: 25/11/21
  2. _hONG_aHN_

    _hONG_aHN_ Gà cận

    Bài viết:
    282
    Được thích:
    339
    Đã thích:
    489
    GSP:
    Ap
    Bạn cứ đăng tiếp vào phía dưới như đăng bình luận thế này là được. Và hình như tên tiêu đề bạn viết sai thứ tự rồi, phải là "Đại Rắc Rối - Dave Barry - Hoàn thành/Cập nhật/Tạm dừng". Mà mình để ý, nếu bạn đăng full bộ lên rồi thì mới được viết là "Hoàn thành".
     
    Chỉnh sửa cuối: 20/1/22
  3. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    Cảm ơn bạn nhiều nhé, mình sẽ fix.
     
  4. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    HAI



    Nhà Herk cũng có nuôi chó chứ đâu phải không, tên nó là Roger. Roger là kết quả ngẫu nhiên của sự hấp tấp, bừa phứa trong tính dục qua nhiều thế hệ khuyển: Trong những nét đặc trưng, nó có thân mình thấp tè của khuyển beagle, đôi tai nhọn của khuyển chăn cừu Đức, lòng hăng hái của khuyển săn Labrador, cái đuôi mập của khuyển boxer, và trí tuệ của rau cần tây.

    Vào đêm ấy, Roger như thường lệ tảo thanh quanh sân sau, duy nó không thể hiện bất cứ đe dọa nào dù nhỏ nhất cho những kẻ xâm nhập-con người. Roger yêu con người, hết thảy họ, không có nhất bên trọng nhất bên khinh. Bởi một con người, ta nói họ luôn có thể thình lình xuất hiện như tiên giáng trần và mang theo thức ăn. Và Roger thì yêu thức ăn thôi rồi.

    Thứ Roger ghét cay ghét đắng là con cóc. Một con Bufo marinus, giống cóc Nam Mỹ đẫy đà đã trở nên phổ biến ở Nam Florida kể từ khi được ra mắt vào những năm 40, bởi bọn-ngu-với-ý-tốt đinh ninh Bufo sẽ trấn áp bọn côn trùng phá hoại mía. Lũ cóc nhân lên và lớn mạnh trong môi trường đất cận nhiệt đới hôi và ẩm ướt; chẳng mấy chốc, chúng trở thành bọn trùm phá hoại.

    Con cóc Roger căm ghét ở đây là CÓC THÙ ĐỊCH, cân nặng lên đến một kí rưỡi. Một sinh vật màu nâu bùn, chàng hảng, gớm ghiếc, mụn nhọt đầy mình, mắt cộm hạt, với kích cỡ tương đương một cái găng bóng chày. Với Roger, con cóc này là hiện thân của thứ tà ác nhất trong toàn vũ trụ, bởi nó cướp thức ăn của Roger. Ngày nào cũng vậy, cô giúp việc Nina sẽ trút đầy thức ăn cho chó vào cái tô của Roger rồi đem đặt trên hàng hiên ngoài phòng gia đình. Và ngày nào cũng thế, canh đúng lúc Roger chuẩn bị dùng bữa là con cóc, bằng một động tác xuất quỷ nhập thần, phóng cái cơ thể đầy hơi của nó vào không trung và đáp xuống chính giữa cái tô của Roger, đoạn đủng đỉnh đánh chén phần ăn của chú chó.

    Lần đầu bị cướp cơm, Roger theo lẽ thường, thử đớp con cóc. Sai lầm lớn. Trong thiên nhiên, bạn đâu thể trở thành một con cóc béo tốt mà không có phương án phòng vệ trước bọn động vật ăn thịt. Và Bufo marinus đã phát triển một độc chiêu cực kỳ lợi hại: Ngay dưới mỗi con mắt nó là một cái hạch phóng ra một chất hóa học có tên là bufotenine, một chất độc. (Nó còn gây ra ảo giác. Được biết nhiều người đã thử liếm những con cóc này để có cảm giác phiêu, nhiều người trong số họ phiêu luôn về chín suối. Chết lãng dễ sợ.)

    Thành thử khi Roger cắn con cóc, nó nhận được một cái mồm nhung nhúc bufotenine. Phước ba đời, nó còn biết đường nhổ ra chớ không nuốt vào, nên thay vì được lên Chiếc Cũi Trên Bầu Trời, nó chỉ lăn đùng ra ốm. Roger nào phải khoa học gia về tên lửa, nhưng nó cũng biết tốt hơn hết là đừng cắn con cóc lần nào nữa. Con cóc cũng biết điều đó. Vậy nên ngày nào cũng như ngày nấy, nó cà nhỏng hàng giờ liền trong cái tô của Roger, thủng thỉnh xơi thức ăn, trong khi Roger đứng cách đó chừng năm tấc, gầm gừ con khốn nạn. Hoạt động này chiếm gần trọn một ngày làm việc của Roger, song nó vẫn cố xoay sở trong thời gian biểu của mình cho các việc hệ trọng khác như sủa vào cái chuông cửa, liếm láp vùng kín, và đon đả đón chào bất cứ con người nào bước vào sân, phòng khi họ mang cơm nước gì đến.

    Khi hai người đàn ông trèo qua bức tường trong đêm nay, Roger lóc cóc chạy lại chào hỏi liền, phất đuôi lia lịa ra chiều mến khách lắm, cũng nhờ vậy mà khách mới không bắn nó. Sau khi xác định những con người này không mang theo đồ ăn, Roger lại lủi thủi trở về chỗ cái tô trên hàng hiên, và tiếp tục gầm gừ kẻ thù không đội trời chung: con cóc. Ỷ y đâu có được!



    CÁCH ROGER vài bước ở phía bên kia cánh cửa trượt bằng kính, Anna Herk và Jenny con gái nàng đang kề vai sát cánh trên chiếc sô pha trong phòng gia đình, xem Những Người Bạn, chương trình cả hai đều thích. Đang cười nắc nẻ thì hai má con bỗng giật bắn mình khi nghe tiếng chân chệnh choạng của Arthur Herk từ phía sau. Lão khật khưỡng tiến tới quầy bar và, lần thứ tư trong buổi tối hôm ấy, rót một ly vang đỏ đầy lút. Lắc lắc ly rượu trên tay, lão đứng lừ lừ như một quả núi ngay sau lưng Anna và Jenny. Mắt vẫn dán mắt vào TV, song hai má con cứ nghe râm ran rờn rợn nơi sau gáy.

    “Coi chi mấy cái tào lao này vậy?” Lão lên tiếng.

    Jenny, người hiếm khi mở miệng với cha dượng mình, không có phản ứng gì. Anna cố nhỏ nhẹ: “Mẹ con em thích phim này, Arthur. Không thích thì anh đừng coi là được mà.”

    “Tao muốn coi cái gì tao coi,” Herk nói. Anna thấy dâng lên một thôi thúc muốn chỉ ra rằng tuyên bố đó, đặt trong ngữ cảnh hiện tại, là hoàn toàn vô lý, nhưng nàng quyết định nhịn cho êm nhà êm cửa. Chừng chục giây kế tiếp, ba người bọn họ lặng thinh dõi mắt theo những nhân vật thông minh, khả ái, không-ngấn-mỡ-thừa của Những Người Bạn, những người đang túm tụm trên sô pha và bông đùa nhau một cách duyên dáng.

    Bỗng Herk phán một câu xanh rờn, “Mấy thằng này pê đê hết.”

    Anna và Jenny không nói gì.

    “Đúng mà,” Herk nói tiếp, “pê đê chính hiệu luôn, tao đọc thấy người ta nói vậy.”

    “Ổng biết đọc hở mẹ?” Jenny nói khẽ, mắt vẫn nhìn thẳng.

    “Mày nói gì?” Herk xẵng giọng, bước vòng qua sô pha.

    Anna giang tay che trước mình đứa con gái. “Arthur,” nàng nói, “để nó yên đi mà.”

    “Tao hỏi mày vừa nói gì?” Herk nhắc lại. Lão đang lù lù trước mặt Jenny, đầu lão nhấp nhô, rượu vang trong ly dập dềnh như sóng.

    Ánh mắt Jenny vẫn hướng thẳng về phía trước, tựa hồ như chọc xuyên qua đống thịt mang tên Herk này. Cô ao ước có thể tan biến vào trong chiếc TV, trở thành một phần của Những Người Bạn, sống cùng những con người vui tính tốt bụng thay vì thằng bợm nhậu chó đẻ này, kẻ căm ghét cô và đánh đập mẹ cô.

    “Arthur,” Anna nói, dù biết lát nữa thôi là phải lãnh đủ. “Cấm ông đụng đến con bé.”

    Herk quay sang Anna, đầu lão vẫn giật giật như một con rối, đôi mắt lão lờ đờ ngầu đỏ. Anna không tin nổi đã có thời nàng thấy thằng cha này cũng không đến nỗi nào. Lão dấn một bước về phía nàng, làm rơi vãi thêm rượu. Anna nhìn sững bàn tay phải của lão, bàn tay không cầm ly. Để ý nàng đang nhìn, lão nắm chặt nó lại rồi nhứ một cú đấm gió về phía nàng. Anna nhăn mặt. Herk khoái quá. Lão làm nàng nhăn mặt thêm lần nữa, rồi quay lại chộp cái remote TV.

    “Xem thử còn gì khác không,” lão nói và bấm chuyển kênh.



    TRONG BÓNG TỐI ẩm ướt ngoài trời, tại mép hàng hiên chồm hỗm hai gã đàn ông – một gã thủ súng trường – đang vừa đập muỗi vừa quan sát gia đình Herk qua tấm cửa kính. Chúng là Henry và Leonard. Mỗi tên được lãnh 25,000$ cộng với chi phí đi lại hạng sang, để di chuyển từ những căn nhà xinh xắn của mình ở ngoại ô New Jersey, đến đây và bắn Arthur Herk, bằng đạn thật.

    Henry và Leonard được thuê bởi Penultimate, Inc., một công ty ở Miami nơi lão Arthur Herk là một nhân viên điều hành cấp trung. Penultimate là một trong những công ty kỹ thuật và xây dựng số má nhất ở Florida. Nó chuyên về các hợp đồng với chính quyền, và đã đạt được khối lợi nhuận khổng lồ. Bí quyết thành công của Pennultimate khá đơn giản: quản trị nghiêm ngặt, kỷ luật thép cho nhân viên, và lấy chữ Đểu làm kim chỉ nam. Công ty dóc láo trắng trợn về trình độ kỹ thuật của nó, đưa ra những giá thầu thấp đến phi lý để có được hợp đồng, đặng sau đó cài vô những chi phí bổ sung cao chót vót. Sở dĩ Penultimate làm được vậy bởi nó đã hối lộ ngập mặt các quan thầy nhà nước rồi, khỏi để anh em nào phải tâm tư. Penultimate xuất sắc ở việc gia tăng tham nhũng trong thành phố bao nhiêu thì cũng lôm côm trong chuyện xây cất bấy nhiêu. Trong vòng tròn chính trị, Penultimate nổi lên như một đối tác hết sức đáng tin cậy để thi hành những trò ma quỉ. Tại Nam Florida, một danh tiếng theo lối đó là vô giá.

    Phải thừa nhận đôi khi nó cũng gặp rắc rối. Điển hình là lần Pennultimate trúng gói thầu béo bở để xây một trại giam ở trung tâm Miami. Cơ sở nhốt tù này được cho là sở hữu hệ thống cửa điện an ninh tối tân nhất, và bà con nộp thuế chắc chắn đã phải chi trả cho lố cửa tối tân này. Song thứ đã được lắp đặt ngoài đời thực là một tổ hợp bán ngẫu nhiên những thiết bị bao gồm – thứ được xem như thành phần trọng yếu – những cái cửa gara được mua ở Home Depot với giá thanh lý 99.97$ một cái. Hệ quả, vào một trận bão chớp ngắn sau khi cơ sở được đưa vào phục vụ, nhiều cửa xà lim bỗng tự động mở khóa, để ngỏ cho anh em tù quyền quyết định, bằng tiếng nói lương tri, rằng họ muốn ở tù tiếp hay thôi.

    Điều xảy ra là, 132 trên tổng số 137 tù nhân được tạo điều kiện, đã quyết định dứt áo ra đi. Thực đúng là một câu chuyện long trời lở đất: một đoàn tội phạm đông như quân Nguyên, toàn mấy mặt cướp hiếp giết, chạy tán loạn khắp trung tâm Miami, kéo theo thiên binh vạn mã cảnh sát và cánh truyền thông điên cuồng truy đuổi. Điểm nhấn đến khi cảnh tóm cổ một tù vượt ngục được phát trực tiếp toàn quốc, trên kênh NBC Bản Tin Tối, tay phóng viên hét lên với gã tù lúc hắn bị nhấn vào xe cảnh sát, “Ai chủ mưu vụ vượt ngục này?”

    Đéo ai chủ mưu hết,” gã tù gào lên. “Mấy cái cửa chó đẻ nó tự mở.”

    Kể cả với các tiêu chuẩn của Miami, vụ việc này vẫn được xem là bê bối nghiêm trọng. Trước sức ép dữ dội từ truyền thông, Penultimate, được che chắn bởi những bức tường lửa dày đặc dựng lên bởi đám luật sư đắt xắt ra miếng của nó, tuyên bố tất cả tội trạng thuộc về ... đám nhà thầu phụ. Các chính khách – nơm nớp lo sợ Penultimate bị đưa lên thớt, thì có ông nào không nhận lì xì của nó đâu – vồ lấy lời biện minh này như chó hoang vồ miếng sườn lợn: Đúng rồi! Chớ gì nữa! Tụi nhà thầu phụ phải chịu trách nhiệm!

    Không may cho phiên tòa của công lý, hầu hết các nhà thầu phụ quan trọng có liên can hoặc đã cao chạy xa bay khỏi đất nước, hoặc đã về chầu tiên tổ, đa số do tai nạn tàu thuyền. Sau rốt, cuộc điều tra như bánh xe bị xì hơi, và vụ việc sa vào trong một đầm lầy mù mịt của kiện tụng và chống kiện tụng không cách chi giải quyết thỏa đáng trong kỷ nguyên địa chất này. Công chúng mất dần hứng thú, và Penultimate trở lại với việc thắng thầu đều đều như vắt chanh.

    Một trong số đó là ga-ra sáu tầng ở khu trung tâm mà sau cùng có giá đội lên, bởi đủ nguyên do kia nọ lọ chai, gấp bốn lần so với con số trong hợp đồng gốc. Mỗi lần tăng giá này đều được chấp thuận cái rẹt, miễn họp bàn lôi thôi bởi các lãnh đạo chính trị gia cốt cán, những người được mời đến đọc phát biểu tại buổi lễ cống hiến của gara, sự kiện may thay đã được tổ chức bên ngoài công trình, thế nên chỉ có hai người bị thương khi toàn bộ phần trung tâm của công trình đổ rầm ngay giữa phần cầu nguyện mở đầu.

    Và thế là lại phẫn nộ, lại họp báo, lại trình bày. Và một lần nữa ngón tay buộc tội sau cùng lại trỏ vào - thời buổi này khó kiếm người làm ăn tử tế quá - đám nhà thầu phụ chết bầm. Những người mà dĩ nhiên tại thời điểm đó đã biến mất còn nhanh hơn mấy vị khách cuối tuần trong truyện của Agatha Christie. Và Penultimate tiếp tục ăn nên làm ra và phát dương quang đại nhờ danh tiếng của nó, như một công ty mà chỉ có kẻ ạch đụi mới dám giỡn mặt.

    Có một sự thật, Arthur Herk, ngoài việc là đệ tử của lưu linh, còn là một kẻ ạch đụi. Để trả món nợ cờ bạc, lão đã cắt xén 55,000$ từ Pennultimate. Lão nào biết các sếp của lão, cao thủ trong lĩnh vực bất tín và thông minh hơn lão trăm lần, đã phát hiện ra kẻ cắp ngay trong một nốt nhạc. Họ coi biển thủ là một hành vi làm tổn hại nghiêm trọng chính sách của công ty, mức phạt cho tội này là: xử trảm.

    Vậy là Penultimate đã cất công đi mời hai nhà thầu phụ có kỹ năng đặc biệt, Henry và Leonard, chính là hai mạng đang rình rập trong bóng tối ẩm ướt bên ngoài cửa kính phòng gia đình nhà Herk. Chúng đang xì xầm với nhau về kế hoạch hành động.

    “Hổng ấy bắn nó bây giờ luôn đi,” Leonard nói, “kịp bay chuyến 11 giờ 40 về Newark.”

    “Giờ chưa được,” Henry nói, “Nó ở quá gần mấy người phụ nữ.” Henry là người cầm súng; còn nhiệm vụ chính của Leonard là lái xe và bầu bạn với Henry.

    “Mày mà không bắn sớm,” Leonard nói, “chắc tao khô máu với mấy con muỗi mắc dịch này quá.” Hắn đập chách một con đậu trên cổ tay, vương lại chừng một phần tư máu và các bộ phận còn lại của con côn trùng. “Nhìn thằng này đi,” hắn nói. “To thua mẹ gì con chó kia đâu.”

    “Con này chớ,” Henry nói, tiếp tục quan sát gia đình Herk qua cửa sổ.

    “Con này?” Leonard ngơ ngẩn. “Con này là sao?”

    “Thì con muỗi đó,” Henry nói. “Nó là con gái.”

    Leonard ngó kĩ dấu vết trên cổ tay, rồi quay sang Henry. “Biết đéo thế nào được?” hắn chất vấn.

    “Thì cái show trên kênh Discovery đó,” Henry lý giải. “Người ta nói chỉ có muỗi cái mới hút máu.”

    Leonard dòm lại vết bầy nhầy trên tay. Hắn rủa, “Đồ quỷ cái.”

    “Cái họ không giải thích,” Henry tiếp, “đó là bọn muỗi đực ăn gì?”

    “Sao, mày lo cho tụi nó hả?”

    “Không, tao không lo. Thắc mắc vậy thôi ...”

    “Hay mày muốn tao chạy đi mua pizza, đem về để trong khu rừng này để tụi nó khỏi chết đói?”

    “Tao chỉ thắc mắc tụi nó ăn gì. Nếu không hút máu? Có vậy thôi.”

    “Hổng chừng tụi nó hút nhau,” Leonard nói.

    Henry phì cười, càng khích lệ thằng Leonard.

    “Ồ anh bợn!” Leonard thì thào, giả giọng một con muỗi nói ngọng. “Anh bợn có cái đùi ngơn gúm!”

    Đến đấy thì Henry cười rũ không thành tiếng; nòng súng của hắn run bần bật trong bóng tối.



    BÊN TRONG PHÒNG gia đình, Arthur Herk bấm đổi kênh lia lịa theo cách có tính toán hẳn hoi. Lão làm vậy lớp vì bản năng đổi kênh đã được cấy trong mã di truyền của giống đực, lớp vì lão biết vợ lão và đứa con ghẻ của lão ghét lão làm vậy. Càng ghét tao càng bấm hung!

    Trong suốt vài phút, Anna và Jenny giương mắt nhìn đống hình ảnh xịt nháy loạn xạ với nét mặt vô cảm, cố không để lão Herk thấy thỏa mãn. Sau cùng, Jenny thở hắt ra và nhổm dậy. Cô bảo Anna, “Thôi con về phòng đây, ít ra chỗ đó cũng đỡ ... ngu xuẩn hơn. Chúc mẹ ngủ ngon.”

    Herk vẫn đang chuyển kênh xoành xoạch.

    Anna nói, “Thôi tôi cũng ra dắt con Roger vô rồi đi ngủ luôn.”

    Herk dừng chuyển kênh và lừ mắt nhìn nàng. Nàng nhận ra cái lối nhìn đó. Nàng trù cho lão gục luôn ở phòng gia đình này. Nàng trù cho lão không lết được về phòng ngủ. Đoạn nàng nhổm dậy khỏi sô pha.

    Ngoài kia, Henry thì thầm, “Họ sắp đi rồi.”



    “HỌ SẮP ĐI rồi,” Matt thì thầm. Nó và Andrew, vừa nhận được màn tiếp đón nồng hậu và chóng vánh từ Roger, đã di chuyển đến một điểm quan sát cạnh một chậu cây lớn ở mép hiên, cách Henry và Leonard độ chín thước.

    “Làm gì giờ?” Andrew hỏi.

    “Tao đoán nó sẽ ra dắt con chó vào nhà,” Matt nói. “Nó mở cửa là mình nhào dzô liền, tao bắn nó, mày chứng kiến.”

    “Thôi tao đứng đây chứng kiến cũng được,” Andrew nói, “lỡ thằng cha nó bắn sảng là khổ.”

    “Bằng cái gì?” Matt vặn lại. “Rẹmote TV hở? Mày phải đi với tao con Jenny nó mới coi mày là nhân chứng được chớ.”

    “Dám thằng chả cất súng ở đâu đó mày,” Andrew nói. “Miami mà.”

    Cũng đúng, Matt khó lòng bắt bẻ chuyện đó. Giọng cứng cỏi duy lòng bủn rủn, nó thì thào “Đi thôi” và khởi sự băng qua hàng hiên về phía cửa kính. Andrew chắt lưỡi, lò dò bám theo.

    Henry và Leonard không nhìn thấy tụi trẻ trâu; chúng đang chăm chú quan sát Anna bước về phía cửa.

    “Hoa lài cắm bãi cứt trâu,” Leonard nhận xét.

    “Im dùm,” Henry nói. Hắn nâng khẩu súng trường lên và cho Arthur Herk vào tầm ngắm, suy nghĩ về cách thức hành động. Thằng Herk mà ở yên trong phòng, ngồi trước TV thì dễ rồi. Nhưng Henry phải dự trù trường hợp Herk đứng lên rồi theo bà kia ra ngoài luôn. Henry không muốn bắn khi có phụ nữ trong phòng, trừ khi bất quá.

    Anna Herk bước đến cửa kính, mở chốt, kéo cánh cửa ra và âu yếm gọi, “Roger, vào nhà thôi con trai.” Chính vào lúc đó, một loạt sự kiện nối tiếp nhau diễn ra nhanh như điện xẹt:


    - Roger, bằng những tế bào não ưu tú đang hoạt động của nó, đã tính ra được xác suất có thức ăn trong nhà với những con người cao hơn so với ngoài này cùng CÓC THÙ ĐỊCH, bỏ chốt canh phòng và phóng như một quả tên lửa tầm thấp xù lông qua cánh cửa để ngỏ, vào trong phòng gia đình.


    - Tiếp bước nó là Matt, hùng hục chạy về phía cửa mở, tay lăm lăm khẩu SquirtMaster Model 9000 chính hãng. Nó tính quát “Ê JENNY!” nhưng do run quá nên tiếng kêu nghe thành “HENNY!”


    - Anna, nhác thấy một hình thù từ bóng tối lao xồng xộc về phía mình chí chóe gì không rõ, hoảng hồn hét lên.


    - Cách hai bước đằng sau, Jenny, nghe mẹ hét và nhìn hình thù đang lao đến, cũng hét theo.


    - Arthur Herk, nghe tiếng la chói lói của mấy người phụ nữ, giật mình đánh rớt cái remote. Roger cấp kì chạy lại, hít hà xem có phải thức ăn không.


    - Trong bóng tối trập trùng ngoài sân, Leonard thốt lên “Cái quái quỉ gì vậy?”


    - Bằng đúng thời gian Leonard đưa ra nhận định đó, Henry, với biệt tài xử lí thông tin và ra quyết định thần tốc (đâu phải khơi khơi mà hắn được cầm súng), đã quyết định: thây kệ tay súng kia tới đây để làm gì, thì hắn, Henry, tới đây để bắn Arthur Herk, và giờ là lúc để bắn.


    - Giữa lúc Henry đưa ra quyết định, Matt băng như một cơn lốc qua cánh cửa để ngỏ, bỏ lại Anna Herk đang la ỏm tỏi và chĩa khẩu Squirt Master Model 9000 vào Jenny đang la ỏm tỏi.


    - Arthur Herk, thấy một thằng ba trợn đùng đùng xông vô với khẩu súng, hớt hải đâm bổ xuống sàn nhà ngay trước TV. Ta nói ông trời ngó bộ còn thương Arthur, bởi lẽ ...


    - ngót nghét mười giây sau, một viên đạn từ nòng súng của Henry bay qua một điểm trong không khí nơi từng là cái đầu của Arthur, đâm vào màn hình TV 35 inch khiến nó nổ tung với một tiếng “BÙM” đanh gọn tàn khốc. Tan tành trong một ánh chớp xanh, hình ảnh Chủ tịch Câu Lạc Bộ Tóc Nam.


    - Nghe tiếng nổ, Arthur Herk khiếp đảm bò loạn trên sàn nhà, đoạn, nom in hệt một con cá sấu Mỹ, từ phòng gia đình lão phóng nhào vào hành lang, hướng thẳng đến phòng Nina.


    - Gạt phăng nỗi sợ và hành động theo bản năng người mẹ bảo vệ con, Anna Herk nhảy chồm lên lưng Matt, khiến nó mất trụ ập vào người Jenny, và cả ba mạng ập xuống nền nhà theo đội hình một cái sandwich: với Matt chẹt giữa hai người phụ nữ đang điên cuồng gào thét và đấm túi bụi vào người nó.


    - Dưới hành lang, Nina nghe nhiều tiếng hét, một tiếng nổ, và nhiều tiếng hét hơn. Cô hé cửa và thấy lão Arthur phóng ra từ sô pha, chạy sòng sọc dọc hành lang về phía cô với bản mặt của một con thú dại. Cô lật đật dập cửa, chỉ để thấy nó bung ra gần như tức khắc sau cú húc của lão Herk. Đinh ninh sắp bị hãm hiếp, Nina phi thân lên giường và tuột ra ngoài cánh cửa sổ mở sẵn, đáp phịch xuống bãi cỏ. Rồi với vỏn vẹn một mảnh áo ngủ màu thiên thanh trên người, cô chạy bán sống bán chết, với đôi chân trần cùng nỗi khiếp hoảng, vào trong đêm tối.


    - Bên mép hàng hiên, Leonard và Henry nghe tiếng còi báo động hú lên và, không một lời trao đổi, bắt đầu rút thật êm, thật mau, thật chuyên nghiệp.


    - Cách chín mét bên phải là Andrew, chuyên nghiệp không bằng nhưng mau lẹ chẳng kém, cũng khởi sự đánh bài chuồn.


    - Trong cái tô của Roger, con cóc, kẻ đạt được vị thế như hôm nay đâu phải bằng sự xao lãng, đủng đỉnh đánh chén khẩu phần của Roger.



    Nina là người đầu tiên đến chỗ bức tường; nói đúng hơn, trong bóng tối dày đặc bên dưới cây chi sung, cô đã tông thẳng vô tường. Thé lên một tiếng kêu bén ngót vì đau đớn, cô loạng choạng nghiêng ngả về phía sau, vừa đúng đà băng lên của Leonard, kẻ vọt ra từ một lùm cây với tốc độ tốt nhất có thể của một người đàn ông trung niên và đâm sầm vào Nina, khiến cô ré lên lần nữa khi cả hai mạng cùng rạp xuống. Leonard vấp nhào lên Nina, húc đầu vào tường, mắt nổ đom đóm.

    Ba giây sau, Henry, thở phì phò trong lúc băng qua bụi cây và tốp lại khi phát hiện hai hình thù dính chùm trên mặt đất cạnh bức tường, cả hai đều đang rên rỉ. Henry lom khom bước đến đống hỗn độn, trở ngược đầu súng đặng có thể dùng nó làm gậy.

    “Leonard?” hắn kêu. “Leonard?”

    Một trong hai hình thù ngọ nguậy và đang cố gượng dậy. Đó không phải Leonard. Henry giương súng lên, vào thế sẵn sàng nhả đạn. Hắn đang tập trung tối đa vào cái lúc Puggy từ trên cây lao xuống người mình. Cú đòn trời giáng khiến Henry nằm bẹp trên đất và đánh rơi khẩu súng trường. Bật dậy như một cái lò xo, Puggy xí lụm nó.

    Puggy chưa bao giờ nổ một khẩu súng trường; đến rờ vô cũng chưa nữa là. Nó bèn bắt chước kiểu dáng như mấy người trên TV, nheo một mắt nhìn xuống nòng súng. Lùi lại vài bước, nó chĩa súng hú họa vào Henry.

    Nếu có nhiều ánh sáng hơn, và nếu Henry không đang hứng chịu những cơn đau lộng óc ở cổ và vai phải, hắn đã có thể nhận ra dù thằng lùn đô con đang giữ súng này là ai đi nữa, nó vẫn chưa kéo chốt an toàn, và chưa để ngón tay vào cò súng. Bình thường là Henry đã giải quyết thằng này phát một rồi – đá vô chân nó, lăn qua một bên, nhổm dậy, rút khẩu súng giắt trong bao da ở cổ chân ra.

    Ngặt nỗi Henry đang không trong trạng thái bình thường, hắn biết điều đó, còi báo động thì đang réo inh ỏi và mặc dù rất muốn biết chuyện gì đang xảy ra, hắn nghĩ tốt hơn hết là dông gấp khỏi đây, bể dĩa quá rồi! Mắt vẫn nhìn chừng Puggy, hắn cử động thật chậm rãi, giơ hai tay ra trước, chuyển từ thế quỳ hai chân, sang quỳ một chân, sau cùng là đứng thẳng dậy. Puggy gườm hắn.

    “Tôi không muốn sinh chuyện,” Henry nói.

    “Đây cũng vậy,” Puggy nói, nó đời nào muốn sinh chuyện.

    “Tôi phải đưa thằng bạn mình đi,” Henry nói.

    “Chớ động vào cô gái,” Puggy nói.

    Henry nghĩ bụng, Cô gái nào kia? Nhưng hắn chỉ nói, “Không, không, tôi chỉ đưa thằng bạn mình đi thôi, OK?” Hắn là đà di chuyển đến bức tường và ... chậc, đúng là một cô gái. Chuyện đây trời? Hắn nắm vai Leonard và lay mạnh.

    “Dậy coi mày,” hắn nói. “Dậy coi, tính ngủ ở đây luôn hả!”

    Leonard ráng gượng dậy được hòm hòm, mắt hắn đang dần bắt được những hình ảnh. Đầu tiên hắn thấy Henry đang đứng trước mặt hắn; rồi hắn thấy một con nhỏ mặc áo ngủ nằm trên đất bên cạnh hắn; rồi tới một thằng đang lăm lăm súng trường. Đầu hắn nhức như búa bổ và mắt hắn rỉ máu và tiếng còi báo động thì tru tréo bên tai.

    Hắn cất lời: “Cái mả cha gì vậy?”

    “Thôi, đi lẹ.” Henry vực Leonard dậy, cơn đau ở vai nhói lên khiến hắn cảm thấy buồn nôn. Hắn ngó lần nữa thằng lùn đô con vẫn đang giương súng vu vơ về phía hắn. Henry biết thằng này không phải cao thủ. Hắn biết mình thừa sức giành lại khẩu súng – hắn không nỡ rời xa nó – song Leonard đang run lẩy bẩy, và tiếng còi báo động đã tắt, nghĩa là tụi cớm đang ở đây rồi.

    Henry gồng mình đẩy thằng Leonard qua khỏi bờ tường, đặt đít nó lên vai mình – lại đau thấu trời xanh – rồi xô nó ra ngoài; xong tới phiên hắn leo qua. Hắn dìu Leonard đi hết tốc lực tới chỗ chiếc xe thuê rồi tống nó vào băng sau. Đoạn hắn thận trọng chui vào ghế trước, cho xe ra khỏi khu dân cư, nhìn chừng gương chiếu hậu và suy tính về những gì sẽ nói qua điện thoại.
     
  5. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    BA



    Cứ hỏi bất kì thằng con trai mười bảy tuổi nào xem, nó có muốn nằm trên sàn nhà và được hai người phụ nữ khả ái ép lấy ép để không? Nó không chịu mới lạ! Thế nhưng với Matt, đó hoàn toàn chẳng phải một trải nghiệm sung sướng gì. Vô phúc cho nó, dẫu nó biết mình chỉ là một nam sinh vui vẻ dự phần vào một trò chơi vô hại, Anna Herk và Jenny có biết đầu cua tai nheo gì đâu. Thành thử trong khi nó tuyệt không có ý định làm hại ai, thì hai má con họ lại đang quyết sống mái, chơi chết bỏ với .

    Trên lưng nó là Anna Herk, người rất chăm tập thể dục, đang bấu chặt lấy nó như một con cá chình ngộ dại. Hai chân nàng quắp chặt mình nó, chẹt hai cánh tay nó sang một bên; tay phải nàng siết cổ họng nó như muốn cắt luôn nguồn cung cấp dưỡng khí, tay trái nàng đấm liên phanh vào sau đầu nó, khuyến mãi thêm chiêu sư tử hống tra tấn màng nhĩ. Bình sinh hiền lành như cây cỏ, song lúc này đây nàng đang cố hết sức để ra vẻ “đả nữ” nhất có thể.

    “THẢ CON TAO RA MAU, THẰNG CHÓ ĐẺ!’, nguyên văn lời vàng ý ngọc của nàng.

    Matt nguyện ăn chay hết tháng nếu thả được con Jenny ra, bởi Jenny đang tì gối lên háng nó và cào cấu nó bằng những móng tay bén ngót không thua gì dao X-Acto. Duy sức mấy Matt cục cựa nổi, bởi phu nhân Herk đang hùng hục cưỡi trên lưng nó, nhấn mình nó xuống thiên kim tiểu thư đang vừa la hét vừa cào cấu của nàng, mặt nó giập bạch bạch xuống nền nhà cứng ngắc sau mỗi cú đấm của Anna; máu xịt ra từ mũi nó. Nó cố sức kêu oan, song âm thanh duy nhất phát ra từ cái cổ họng bị thắt chặt của nó chỉ là tiếng “ACK” vô nghĩa. Trong màn sương mờ tối của ý thức đang chuội dần, Matt cảm giác một sự hiện diện mới, lông lá bù xù ngay cạnh má phải của mình. Roger chớ ai! Sau khi điều nghiên tình hình, cu cậu đã quyết định việc cần làm, là liếm chỗ máu mũi của Matt.



    Ngoài đường phố, sĩ quan cảnh sát Miami Monica Ramirez, người phải nghe tối thiểu ngày ba lần chuyện đùa về Monica Lewinsky từ các nam đồng nghiệp hợm hĩnh, tốp chiếc xe tuần tiễu trước địa chỉ nhà Herk, nơi vừa được hàng xóm báo cáo với 911. Cô kéo cửa sổ xe xuống và nghe văng vẳng tiếng phụ nữ la hét. Cô hướng đầu xe về phía lối vào nhà, cạ tấm cản trước của xe vào cánh cổng thép an ninh rồi để nhẹ chân ga. Cánh cổng an ninh, như phần lớn chúng, mở ra ngay tắp lự.

    Monica tấp vào lối đi rồi chui ra khỏi xe, cùng với cộng sự của cô, Sĩ quan Walter Kramitz. Họ đã là cộng sự của nhau suốt hai tháng nay, và Monica áng chừng ổng sắp mở lời xin một cái hẹn, nghĩa là cô phải mau mau nghĩ cách để khước từ. Sự thật là, khứa này quá si mê bắp tay của mình, chưa kể hắn đã có vợ.

    Kramitz thử mở cửa trước – khóa rồi, hắn nhấn chuông, đoạn đập cửa đùng đùng và quát, “Cảnh sát đây!”

    Monica không hi vọng có người ra mở cửa. “Tôi sẽ vòng ra sau nhà,” nói rồi cô khởi sự chạy vòng theo hướng bên trái ngôi nhà.

    Khi quành qua góc nhà sau, cô nghe những tiếng hét vọng đến lớn hơn từ phía sân hiên. Thận trọng tiến đến cánh cửa kính đang để ngỏ, Monica rút khẩu súng lục từ bao da ra. Qua tấm kính, cô thấy một mớ chân cẳng lộn tùng phèo; tiếp đến là cảnh tượng những con người đang quần thảo trên nền nhà, máu me vương vãi, và một khẩu súng trường.

    Cô xoay người vào trong qua cánh cửa mở, giương súng lên và quát: “Cảnh sát đây! Tất cả dừng tay lại!” (Monica không bao giờ hô “Freeze!”, cho rằng nó quá sến sẩm.) Sới vật trên sàn nhà còn hăng máu quá đâu có nghe thấy gì, chỉ mỗi con Roger tức tốc phi đến và – bằng cử chỉ toàn cầu bày tỏ tình hữu nghị của loài khuyển – sục mõm nó vào háng Monica.

    “TỐP MAU!” Monica nộ con Roger, nhưng Anna Herk lại nghe được. Một tay vẫn kẹp cổ Matt, nàng quay đầu lại và chết điếng khi thấy một cảnh sát đang chĩa súng vào mình.

    “Thả họ ra,” Monica nói.

    “Tôi ở nhà này mà,” Anna phân bua.

    “Thả trước nói chuyện sau,” Monica nói.

    Anna bèn lăn khỏi người Matt. Matt, thoát khỏi cảnh trên đe dưới búa, lăn khỏi người Jenny, tay bưng lấy lỗ mũi ăn trầu. Jenny vẫn chưa thôi rên rỉ, nhớn nhác bò lần đến bên phụ mẫu.

    “Con có sao không cưng?” Anna xuýt xoa. Jenny khẽ gật đầu.

    Monica hạ súng xuống duy chưa vội cho vào bao, nói với Anna, “OK, giờ cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra?”

    Anna trỏ vào Matt và cất lời, “Tên này định ...”

    “FREEZE!” Sĩ quan Kramitz, xộc vào phòng một cách đầy dũng mãnh, giương súng quát. Hắn đã cạn kiên nhẫn với cái cửa chính.

    “Thôi,” Monica xua tay. “Mọi chuyện êm rồi.”

    “OK,” Sĩ quan Kramitz nói, thất vọng ra mặt. “Có vụ gì vậy?”

    “Thì bà đây đang sắp kể nè,” Monica nói. “Tiếp tục đi.”

    “Tên này định giết chúng tôi,” Anna nói.

    Mọi ánh mắt đổ dồn vào Matt.

    “Không!” nó kêu lên. “Là tôi mà! Thằng Matt Arnold mà.” Nó bỏ tay khỏi mũi để bà con có thể ngắm nghía dung mạo.

    “Tôi chỉ định giết Jenny thôi,” nó trình bày.

    “THẤY chưa?” Anna kích động.

    “Ấy không không,” Matt cuống quít. “Hổng phải giết thiệt, giết chơi thôi. Đó là trò Killer. Ở trường. Tôi học chung lớp Sinh Học với bạn ấy. Jenny, cứu bồ dùm cái.”

    Mọi con mắt lại hướng sang Jenny. Cô nhìn chằm chằm Matt và nhận ra, dưới lớp máu me, trời đất đúng là cái gã học chung với cô thiệt. Đã nhiều lần cô bắt gặp hắn nghía mình trong lớp học. Cũng như bao tiểu thư có nhan sắc khác, Jenny luôn phải vờ tỏ ra cao lãnh, băng giá trước những ánh mắt ngưỡng mộ của bọn con trai, dù tất nhiên trong lòng thì trống giong cờ mở.

    “Ủa mà cậu tới nhà tôi chi vậy?” Jenny hỏi.

    “Thì tôi tới để giết Jenny,” Matt nói.

    Thấy chưa?” Anna lại kích động.

    “Với súng nước,” Matt nói lia. “Nó là súng nước.”

    Mọi người nhìn sang khẩu súng. Sĩ quan Kramitz bước tới nhặt nó lên.

    “Súng nước thiệt,” hắn tiu nghỉu.

    Chết mất,” Jenny vỗ trán. “NÓ đó đúng không? Cái trò dở hơi đó?”

    “Đúng rồi!” Matt reo lên. “Nó đó.”

    “Chúa ơi,” Jenny nói. Cô quay sang mẹ, “Cái trò ở trường tụi con đó mẹ. Hễ mẹ nhận được tên của ai đó, mẹ được quyền bắn họ với súng nước.”

    “Ở nhà người ta?” Anna trố mắt. “Vào đêm hôm? Trò gì kỳ cục vậy?”

    “Xin lỗi cô,” Matt nói. “Con không nghĩ nó lại ...”

    “Mấy người tới ĐÚNG LÚC quá ha,” Arthur Herk xuất đầu lộ diện từ hành lang. Tự nãy tới giờ lão rúc kĩ trong phòng Nina, khóa cửa cài then, cho đến khi đã chắc chắn sóng yên biển lặng. Roger tíu tít chạy lại, hóng coi Arthur có mang cơm nước gì tới không, lão tung cho nó một đá lăn quay.

    “Ông là ...” Monica nói.

    “Tôi là chủ cái nhà này,” Arthur nói.

    “Mừng cho ông,” Monica nói. “Và tên ông là?”

    “Arthur Herk. Tôi có quen với thị trưởng, và tôi muốn biết mấy người làm cái đéo gì mà giờ này mới tới?”

    “Sir,” Monica nói. “Một, chúng tôi nhận được phôn là tới liền. Hai, đừng có xổ thứ tiếng đó với tôi.”

    “Phải đó sir,” Sĩ quan Kramitz tiếp lời, thầm mong Arthur còn làm trận làm thượng hung nữa, để hắn có dịp trổ tài trấn áp đối tượng.

    “Rồi mấy người tính làm gì?” Arthur chỉ vào Matt. “Thằng này xông vô đây với một khẩu súng chó đẻ! Tính đồ sát cả nhà tôi!”

    “Arthur à,” Anna nói, “súng nước thôi.”

    Arthur liếc khẩu súng trong tay Sĩ quan Kramitz. Kramitz bóp cò, một tia nước phọt lên sàn nhà. Roger chạy lại liếm.

    “May mà ông trốn kịp đó, Arthur,” Jenny mỉa. “Đỡ mất công thay bỉm.”

    Sĩ quan Kramitz khịt mũi. Arthur quay phắt lại, nồ Jenny: “Câm mồm, con đĩ cái.”

    Một phút tĩnh lặng trong căn phòng nơi mà tất thảy những người hiện diện ở đó, trừ Arthur và Roger, cùng chiêm nghiệm về sự đốn mạt siêu cấp của Arthur.

    “OK,” Monica lên tiếng, “hãy cùng làm rõ đầu đuôi câu chuyện và ...”

    “CÁI TV!” Arthur gào lên thảm thiết. “NÓ ĐẬP BỂ MẸ CÁI TV CỦA TÔI RỒI!”

    Mọi người cùng nhìn về phía chiếc TV, giờ chỉ còn là một hộp đen câm lặng với một cái lỗ toang hoác, thủy tinh vun vãi trên sàn nhà phía trước.

    “Vụ này không mắc mớ tới tôi nghen,” Matt líu ríu.

    “MÀY PHẢI ĐỀN! MÀY PHẢI VÀO TÙ! QUÂN KHỐN NẠN!” Arthur rủa xả.

    “Tôi vô can,” Matt lắc đầu lia. “Súng nước mà.”

    “Ổng còn lo cho cái TV hơn mẹ con mình,” Jenny xọc dưa.

    “TAO BIỂU MÀY CÂM MỎ RỒI MÀ, CON GIẶC CÁI,” Arthur nạt.

    “Sir,” Monica nói với vẻ ngán ngẩm, tự hỏi sao mình cứ dính vô mấy vụ sóng gió gia đình này hoài thay vì các vụ án mạng đơn giản, dễ thương, “Tôi yêu cầu ông bình tĩnh để chúng tôi có thể ...”

    “ĐÂY LÀ NHÀ TAO!” Arthur nói.

    “Vâng, sir,” Monica nói. “Còn đây là cặp còng số tám của tôi, hoặc ông bình tĩnh, hoặc phiền ông đeo nó dùm.”

    “Phải đó, sir,” Sĩ quan Kramitz tiếp lời, tiếc hùi hụi vì không nghĩ tới câu thoại về cặp còng.

    “OK,” Monica nói, “Tôi muốn nghe từ đầu, từng người một, thuật lại vụ việc, bắt đầu với ngài Killer đây.” Cô gật đầu ra hiệu cho Matt.

    “À,” Matt nói, “thì tôi với thằng Andrew núp ngoài kia, tôi cầm theo súng nước, và ...”

    “Andrew là ai vậy?” Monica hỏi.

    Matt, ý thức được nguy cơ mắc phải tội lỗi tày đình đối với một nam sinh – tội chỉ điểm, bèn giả lả: “Không ai hết.”

    “Andrew là ‘không ai hết?’” Monica vặn lại. “Cậu ở ngoài kia với khẩu súng nước và một người bạn tưởng tượng?”

    “Phải,” Matt nói. “Í lộn, không phải.”

    Monica xoa xoa thái dương, mới nhận ra mình vẫn đang cầm súng. Cô tra súng vào bao và nói, “OK, cậu và không ai hết ở ngoài kia. Sau đó thì sao?”

    “OK,” Matt nói, “sau đó thì mẹ Jenny bước ra mở cửa, và tôi chạy vô để xịt nước Jenny, và ...”

    Chợt có tiếng chuông vang lên.

    “Ở cửa trước.” Anna nói.

    “Sĩ quan Kramitz,” Monica nói. “nhờ anh ra coi ai vô nhà được không?”

    Sĩ quan Kramitz liếc xéo Arthur một cái đoạn rời khỏi phòng gia đình.

    “Vậy là,” Monica trở lại với Matt, “cậu chạy vô để xịt nước, và ...”

    “Và cô Herk nhảy lên người tôi, rồi tôi đằng lên Jenny,” Matt nói. “Ý tôi là, tôi ngã đằng lên Jenny.” Matt và Jenny cùng đỏ mặt.

    “Trời, cho cô xin lỗi nghen,” Anna bẽn lẽn nói. “Thì cô cứ tưởng con là ... ai biết đâu. Có bị nặng lắm không con?”

    “Dạ không, xịt máu mũi tí thôi,” Matt nói. “Mà chắc cô có chơi thể thao đúng không ạ?”

    Anna nói, “Để cô đi lấy khăn.”

    Jenny nhanh nhảu, “Để con lấy cho.” Tự nhiên cô thấy Matt dễ thương lạ.

    “Dẹp! Không lấy cái cứt gì cho nó hết!” Arthur sừng sộ. “Nó đột nhập nhà tao, đập bể TV tao. Phải làm đơn truy tố, bắt nó đền vô!”

    Sĩ quan Kramitz trở lại phòng và thông báo, “Người này nói con ông ta đang ở đây.”

    Sau lưng chàng sĩ quan, trong trang phục quần soóc tập gym và áo phông Miami Fusion với dáng điệu cà cuống, là Eliot Arnold. Eliot hất Roger khỏi háng và xăm xăm tiến lại chỗ Matt.

    “Matt,” anh nói, “con không sao chớ?”

    “Dạ không ba,” Matt nói. “Bị chút máu mũi thôi ạ. Xin lỗi ba nghen. Con đâu có nghĩ ... Con xin lỗi.”

    “Cậu này là con anh?” Monica lên tiếng hỏi.

    “Phải,” Eliot nói. “Tôi là Eliot Arnold. Thằng Andrew bạn Matt phôn cho tôi, nói có chuyện ở đây, tôi bắt taxi tới liền.”

    “À,” Monica gật gù. “Người bạn tưởng tượng.”

    “Gì cơ?” Eliot nhướn mày.

    “Thôi bỏ đi,” Monica phẩy tay.

    Arthur Herk xán lại Eliot, nhỏ nhẹ hỏi, “Ông có luật sư chớ?”

    “Sao cơ?” Eliot nói.

    “Ông nên kiếm thằng thầy cãi nào thiệt giỏi đi,” Arthur bảo Eliot. “Thằng con ông đập bể TV tôi. Hiệu Sony, ba mươi chín inch.”

    “Ba lăm thôi,” Jenny lên tiếng, đã trở lại với cái khăn.

    “Con giặc cái,” Arthur lầm bầm.

    “Ai đó làm ơn cho tôi chuyện gì đã xảy ra?” Eliot ngơ ngác hỏi.

    “Thì con tới để giết Jenny,” Matt nói, “rồi mẹ Jenny nhảy lên mình con.”

    “Chào anh,” Anna khẽ vẫy tay chào Eliot. “Tôi là Anna Herk. Thiệt tình tôi không có ý làm đau cháu.”

    “Chào cô,” Eliot vẫy tay đáp lại. “Ầy, người xin lỗi là tôi mới phải. Do tôi cũng chủ quan quá, ý tôi là, nghe cách thằng Matt diễn tả, tôi cứ nghĩ đó là trò con nít thôi chứ ai dè đâu.”

    “Này,” Anna nói, phác cử chỉ ta-làm-gì-được-chứ. “Con trẻ mà.”

    “Ừ,” Eliot đồng tình. “Con trẻ mà.” Anh sững sờ khi bắt gặp đôi mắt Anna, chúng ánh lên một màu ngọc bích xanh đến không tưởng.

    “Ờ, và con trẻ của ông sắp được ăn cơm nhà nước rồi,” Arthur Herk chắt lưỡi, lặc lè bước đến quầy bar.

    “Monica ơi?” Sĩ quan Kramitz lên tiếng.

    “Gì thế?” Monica nói.

    “Tới nhìn cái này đi,” Sĩ quan Kramitz nói, niềm hứng khởi với vụ án lại dậy lên trong hắn. Hắn cúi xuống sát TV, chỉ chỏ gì đó vô lỗ hổng đã từng là chỗ cái đèn hình. Monica lại gần và trông thấy một lỗ nhỏ tròn vo ở mặt sau hộp nhựa. Đằng sau TV, cô phát hiện một lỗ trên tường với kích thước in hệt. Cô đi vòng qua tường đến gian phòng ăn; có một cái lỗ trên đó, và một lỗ khác nữa trên bức tường đối diện.

    “Trời đất,” cô cảm thán, đoạn quay lại phòng gia đình.

    “OK,” cô nói, “Nhờ mọi người trình bày lại sự vụ một lần nữa, và lần này, bao gồm cả chuyện ai đã bắn cái TV.”

    Arthur Herk đang rót rượu chợt ngẩng đầu lên.

    Bắn nó?” Anna nói. “Làm gì có ai bắn nó.”

    Súng nước mà,” Matt tiếp lời.

    “Nghe đây,” Monica nói. “Có một lỗ đạn trên bức tường kia, và tôi muốn biết, ngay bây giờ, làm thế nào ... Hượm đã.”

    Monica quay lại, rảo bước đến chỗ khung cửa sổ cạnh cửa trượt và đứng tần ngần ở đó một lúc, mắt nhìn chăm chăm. Eliot, Matt, Anna, Jenny và Sĩ quan Kramitz cùng xáp lại và quan sát thứ cô đang quan sát. Một lỗ tròn vành vạnh trên mặt kính.

    Chúa ơi,” Jenny thốt lên.

    Lỗ đạn hả??” Eliot hỏi.

    “Coi bộ giống lắm,” Monica nói.

    “Nói vậy,” Matt tái mặt, “có một viên đạn bay qua phòng này? Với bọn tôi ở trỏng?”

    Jenny lại gọi Chúa. Anna ôm ghì lấy cô.

    Tại quầy bar, Arthur Herk mặt cắt không còn hột máu.

    “Matt,” Monica nói, “lúc cậu và người bạn tưởng tượng ở ngoài này, cậu có thấy ai khác không?”

    “Dạ không,” Matt lắc đầu.

    “Bà Herk,” Monica nói, “còn ai khác sống ở đây ngoài bà, con gái bà và chồng bà không?”

    “À,” Anna nói, “còn có ... Lạy Chúa, Nina đâu rồi?”



    Nina ngửi thấy mùi bia. Đó không phải thứ mùi khó chịu; kì thực nó khiến cô nhớ đến cha mình, khi ông đi làm về muộn mỗi tối thứ Sáu và thi thoảng cô được ngồi lọt thỏm trong lòng ông, nghe ông nghêu ngao những bài hát của cô, và phảng phất trong hơi thở của ông là mùi hương ngọt ngào của cerveza.

    Cũng là mùi hương đó lúc này đây, nhưng không phải từ cha cô mà là một người đàn ông với giọng nói khác, một giọng với âm sắc cao hơn, và ảnh đang rối rít “Cô không sao chớ? Cô gì ơi? Cô gì ơi? Cô không sao chớ?”

    Nina mở mắt và thấy một người đàn ông, nhưng cô không hét lên, bởi lẽ cô không cảm thấy sợ người này. Ảnh để râu ria mọc dày, và đôi mắt màu nâu của ảnh nom buồn hỉu buồn hiu, như mắt con Roger vậy, và cô như nhìn thấy bên trong nó một tâm hồn màu nâu sầu muộn, anh chàng này sẽ không làm hại cô đâu.

    Puggy nghĩ Nina thật đẹp. Đẹp đến rụng rời, như một thiên thần trong chiếc váy ngủ màu thiên thanh vậy, hay như những phụ nữ nó từng thấy trên TV. Một mỹ nhân sắc nước hương trời nhường này lại đang hiện diện trong cái cây của nó ư? Nó đang mơ chăng? Puggy biết – nó tin chắc – cô là lí do của tiếng nhạc sáo ấy, bởi tiếng nhạc ấy cũng đẹp hệt như cô vậy. Nó chưa bao giờ phải lòng một phụ nữ nào, nói chuyện suông cũng chưa nữa là, nhưng không hiểu sao nó tin chắc mình đã yêu cô gái này mất rồi.

    “Không sao chớ cô?” nó lại hỏi.

    “Sí,” Nina nói. “Vâng.”

    Nữa. Tiếng Tây Ban Nha, Puggy nghĩ điệu này chắc chết.

    “Có chuyện gì với tôi thế?” cô hỏi, thận trọng sờ vào trán mình, cảm nhận được một cục u lớn và mềm.

    “Thằng đó tông trúng cô,” Puggy nói.

    “Señor Herk,” Nina nói. “Ông ấy rượt tôi.”

    Puggy thấy ghét ngay thằng Señor Herk này, dù nó là ai đi nữa.

    “Tui đoạt được khẩu súng của nó,” Puggy nói.

    “Súng?” Nina đọc thành “xúng.” Puggy nghĩ đó là một cách phát âm tuyệt vời. Bỗng dưng nó muốn cô gái này ở lại trên cây hoài hoài với nó, thỏ thẻ phát âm thứ này thứ kia.

    “Khẩu súng của thằng còn lại,” Puggy nói. “Tui đoạt được nó.”

    “Bộ có người khác nữa sao?” Nina hỏi.

    “Hai đứa lận,” Puggy nói. “Yên chí đi, tụi nó dông hết rồi.”

    Nina nhìn xung quanh. Cô đang nằm trên một thứ gì đó cứng và phẳng như một cái giường gỗ, song cô lại đang ở ngoài trời, với những cành cây bao phủ.

    “Đây là đâu vậy?” cô hỏi.

    “Cái cây của tui đó,” Puggy khoe.

    Nina cựa mình nhổm dậy, và thấy quả nhiên mình đang ở trên một cái cây.

    “Nói chớ,” Puggy cười ngượng nghịu, “cũng không hẳn là cái cây của tui. Nhưng tui đang tá túc trên này.”

    “Ủa mà sao tôi lên được đây hay vậy?” Nina hỏi.

    “Tui cõng cô lên đó,” Puggy đáp, bồi hồi nhớ lại hơi ấm cơ thể nàng trên bờ vai mình. “à mà cô đừng nghĩ tui ... ý tui là, tui không có ý ...”

    “Không, không,” Nina khẽ xua tay. “Tôi biết mà. Anh đã cứu tôi. Muchas gracias. Cảm ơn anh nhiều lắm.” Và cô cười với nó. Tuyệt sắc giai nhân có khác, tới hàm răng cũng trắng bong.

    Puggy chưa bao giờ hạnh phúc hơn thế trong suốt cuộc đời mình, chưa bao giờ, kể cả cái lần hồi nó còn nhỏ và được cha mình, giờ ông đã khuất rồi, dắt đi chơi lễ carnival của lính cứu hỏa tình nguyện và cho nó chơi ô tô đụng thỏa thích. Ba nó uống bia, cười tươi rói, dúi cho thằng coi xe mấy tờ bạc và nói sang sảng: “Cho nó đi tua nữa!” Đó là thời khắc huy hoàng nhất trong đời nó, nhưng cũng chẳng sánh nổi với chuyện này, được một cô gái đẹp như một tiên nữ-TV cười với mình.

    “Nina!” một tiếng gọi vọng xuyên qua bóng tối, từ phía ngôi nhà.

    “Ay Dios,” Nina nói. “La señora!”

    Nina, Puggy nhủ thầm.

    “Tôi phải đi rồi,” Nina nói.

    “Nina!” tiếng gọi lại vang đến.

    “Nina,” Puggy thử gọi.

    Nina thích cái cách anh ta đọc tên mình. “Còn anh tên gì?” cô hỏi.

    “Puggy.”

    “Puggy,” Cô đọc thành “Pogey.” Puggy ngỡ mình sắp trôi luôn ra khỏi cái cây.

    “NINA!” tiếng gọi lần này nghe róng riết hơn, và gần hơn.

    “Tôi phải đi rồi,” Nina nói.

    “OK,” Puggy nói, nó đã quen với chuyện mọi người bỏ đi. Nó xòe rộng bàn tay để Nina nắm lấy, và kéo cô đứng dậy. Nina cảm nhận được sức mạnh của Puggy. Cô mong chàng không thấy bàn tay mình quá thô ráp. Cô có đôi tay của dân lao động.

    Nhưng Puggy thích cảm giác nơi bàn tay cô, và nó yêu cái cách cô siết lấy bàn tay nó, một cái ghì siết đúng nghĩa, khi nó từ từ hạ cô xuống, từ cành cao đến cành thấp, theo sau cô, rồi đưa cô xuống mặt đất. Nó đáp xuống bên cạnh cô, và hai người cứ đứng tần ngần nhìn nhau mà chẳng nói gì cả. Họ có chiều cao ngang bằng nhau.

    “NINA!” tiếng gọi lại cất lên, rõ ràng nó đang hướng thẳng về phía này.

    “Chắc họ cũng không cần biết tui sống trên này,” Puggy nói.

    “OK,” Nina nói. Cô sẽ không tiết lộ.

    “Nina,” Puggy nói, cố nghĩ cách trao ngỏ niềm yêu.

    “Ừa?”cô nói.

    “Tui lúc nào cũng ở đây nghen,” nó nói.

    “OK,” cô mỉm cười, rồi rất nhẹ nhàng, cô ấp bàn tay mình vào cánh tay Puggy và giữ im như vậy một lúc. Sau cùng, với một thoáng ngập ngừng, Nina quay gót và thoăn thoắt bước về phía tiếng gọi, để lại Puggy ngây người đứng đó dõi theo hình bóng cô, hơi ấm nơi bàn tay cô vẫn nồng nàn trên cánh tay nó.



    HENRY KHÔNG MUỐN gọi bằng cái điện thoại bỏ túi của hắn. Buồng điện thoại trả tiền đầu tiên hắn tìm thấy nằm trên Đại lộ Grand ở Coconut Grove. Không phải nơi an toàn nhất thế giới dành cho mấy gã trung niên da trắng đeo đồng hồ Rolex, như Henry.

    Leonard, chưa hết choáng váng, ở lại trong xe và nằm xụi lơ trên băng sau. Henry ra ngoài, nhét một đồng 25 xu và một đồng 10 xu vào điện thoại, rồi quay số phôn trên một mẩu giấy. Theo dõi hắn từ một lô đất trống bên kia đại lộ bốn làn xe, là ba gã thanh niên.

    Tiếng đổ chuông reng lên một lần.

    “Nói đi,” đầu bên kia lên tiếng.

    “Có một tay súng khác,” Henry nói.

    Một quãng ngừng, rồi đến tiếng nói từ đầu bên kia: “Là sao?”

    Ba gã thanh niên khởi sự bách bộ qua Đại lộ Grand, mặt tỉnh như ruồi, chúng đang tiến về phía Henry.

    “Là còn một tay súng khác chứ sao,” Henry nói.

    “Ai cơ?” đầu bên kia nói.

    “Tôi nghĩ hổng chừng ông biết,” Henry nói.

    Được nửa đường qua đại lộ, ba gã thanh niên tản ra, một gã đi về phía bên trái Henry, một gã về hướng bên phải, gã còn lại đi thẳng tới trước mặt. Nhìn chúng chỉ như những kẻ nhàn rỗi đang dạo chơi hóng mát.

    Đầu bên kia tiếp tục: “Ai đi nữa, cũng không phải người mình.” Và tiếp: “Anh hoàn thành công chuyện chứ?”

    “Không,” Henry đáp.

    “Tay súng kia hoàn thành công chuyện chứ?”

    “Cũng không luôn.”

    “Anh đang nói là, có hai tay súng, và ông bạn mình chỉ phủi đít bỏ đi?”

    Ba gã thanh niên tốp lại ở khoảng cách hai thước so với Henry, hình thành một tam giác xung quanh hắn.

    “Chờ chút,” Henry nói. Hắn buông mẩu giấy ghi số phôn xuống đất, rồi cúi xuống vờ như sắp nhặt nó lên. Thay vào đó, hắn rút con chó lửa khỏi bao da mắt cá chân, đứng phắt dậy, chĩa nó vào một trong ba thằng thanh niên mà Henry đoán là đại ca, xét rằng nó là thằng đứng gần nhất và mặc cái quần rộng nhất. Henry đá lông mày với nó, ngỏ ý: ê, lúc này không tiện, OK?

    Thằng đại ca gật đầu lia, lớp bởi mũi súng, lớp bởi thần thái ngầu kinh người của Henry. Nó quay lại, lủi thủi đi bộ về phía bên kia Đại lộ Grand, hai thằng đệ thấy vậy cũng lẹ làng làm theo.

    “A lô?” đầu bên kia nói.

    “Ông bạn mình không phủi đít bỏ đi đâu,” Henry nói. “Hắn chổng đít bò đi lúc tay súng kia xông vào in hệt Geromino, rồi tới mụ vợ nhảy lên Geromino, rồi tới cảnh sát xuất hiện.” Henry quyết định chừa ra, chí ít trong lúc này, đoạn hắn bị thằng khứa trên cây nẫng mất khẩu súng.

    Điện thoại lặng im trong giây lát.

    “Ta cần nói chuyện,” đầu bên kia nói.

    Nhất định là thế,” Henry nói.



    MỘT THÁM TỬ CẢNH SÁT tên Harvey Baker đến và thẩm vấn gia đình Herk, theo nhiều hướng khác nhau, xem mặc may họ có nghĩ ra lí do nào cho việc có người muốn bắn mình không. Anna không có ý kiến. Arthur thì cho là tụi nhãi ranh chó đẻ nào đó, bởi tụi nhãi ranh chó đẻ ngày nay, chúng đều có những khẩu súng chó đẻ. Thám tử Baker nghi Arthur còn giấu chuyện gì đó. Ông nhấn mạnh cảnh sát không thể bảo vệ người dân nếu họ không chịu hợp tác. Arthur tuyên bố lão không nghĩ một thằng cớm có thể bảo vệ con cu của nó với cả hai bàn tay nữa là. Thám tử Baker bỗng dấy lên một mối đồng cảm mạnh mẽ với kẻ đã nổ phát súng.

    Nina cũng không giúp được gì. Thám tử Baker, với Monica làm thông dịch, cam đoan ông không quan tâm đến tính hợp pháp sự hiện diện của cô trên đất Mỹ; nhưng gì chứ đụng tới công an là Nina lo né lẹ. Cô chỉ nói là khi nghe náo động mình đã nhảy khỏi cửa sổ, chạy băng qua sân vườn, và đâm phải bức tường. Không nghe gì hết, không thấy gì hết. Nada.

    Thám tử Baker chốt hạ, đây có thể là một trong những vụ nổ súng không bao giờ xác định được danh tính hay nguyên nhân, một ca điển hình ở Miami. Để làm Anna Herk yên lòng hơn, ông khảo sát quanh sân sau với sự hỗ trợ của Roger, song không phát hiện, hay mong chờ sẽ phát hiện bất kì manh mối gì. Ông bảo gia đình Herk sẽ tiếp tục điều tra về vụ nổ súng, và ai nấy đều hiểu, ông sẽ chấm dứt điều tra về vụ nổ súng.

    Thám tử Baker quyết định không câu lưu Matt, cũng nhờ Anna Herk năn nỉ dữ quá, nàng thấy cắm rứt lương tâm vì đã giộng đầu Matt xuống nền nhà. Thám tử Baker, tuy vậy, cũng nhấn mạnh rằng việc rình mò quanh sân sau nhà người khác vào đêm hôm ở Miami, rinh theo một thứ in hệt súng thật, không có ý xúc phạm, là còn ngu hơn cục cứt chó. Matt cam đoan với viên thám tử nó đã lĩnh hội được bài học.

    Ngay khi đám người nhà nước rời đi, Arthur quay sang Eliot, nói: “Thôi ông với thằng con cô hồn biến đi luôn cho tôi nhờ, và khỏi hẹn ngày tái ngộ.”

    “Rất lấy làm mừng được gặp ông,” Eliot nói.

    “Tôi sẽ dẫn anh ra ngoài,” Anna nói với Eliot. Họ cùng bước về phía tiền sảnh, với Matt, Jenny, và Roger theo sau.

    Matt lên tiếng trước tiên khi cả bọn đã ra ngoài trời, “Để con đi lấy xe.” Đoạn nó quay sang Jenny, “Jenny muốn trải nghiệm cảm giác vi vu trên một chiếc Kia chính hãng không?”

    “Ui, đó là giấc mơ của đời mình,” Jenny trầm trồ, và hai đứa te te bước về phía cổng, Roger lóc cóc bám theo, đề phòng họ có đi lấy đồ ăn.

    “Thói cà khịa,” Eliot lắc đầu. “Chả biết tụi nó học ở đâu.”

    Chắc không phải từ các đấng sinh thành rồi,” Anna nói.

    “Nghe này,” Eliot nói. “Tôi thực sự xin lỗi về ...”

    “Thôi thôi,” Anna ngắt lời. “Tôi mới phải xin lỗi nè, vì đã làm Matt bị thương, và tôi xin lỗi vì ông chồng ngu đần của mình nữa.”

    “Ầy,” Eliot xua tay, “chắc anh nhà căng thẳng vụ viên đạn thôi ấy mà.”

    “Không đâu,” Anna nói. “Ổng đần thiệt đó anh.”

    Eliot đưa mắt nhìn nàng, bởi thực tình anh đồng ý với nàng chuyện Arthur là một thằng đần. Và nữa, nàng quả nhiên có một đôi mắt đáng kinh ngạc.

    “Này,” sau cùng anh nói, “nếu tôi giúp được gì ... Ý tôi là, không phải về chồng cô, cái đó đương nhiên, mà về vụ nổ súng, nếu tôi có giúp gì được ...”

    “Tôi cưới ổng hồi Jenny còn bé xíu,” Annna thở dài, “chồng đầu của tôi đã vét sạch của nả rồi dông đi mất, và tôi phải chuyển tới một căn hộ tồi tàn, việc làm thì không có. Dạo ấy Arthur đâu có uống dữ như bây giờ, và ổng có vẻ ... đáng tin cậy, chắc vậy, và tôi, tôi đã ... quá túng quẫn.”

    “Trời,” Eliot chắt lưỡi.

    “Mà không hiểu sao tôi lại kể lể với anh mấy chuyện này nữa, kì ghê,” nàng ngượng nghịu nói.

    “Kì gì đâu cô,” Eliot cười độ lượng. Anh còn thấy thích vì nàng đã kể lể với mình.

    “Tôi tìm riết mấy ông luật sư chuyên về li dị trong danh bạ,” nàng nói. “Vài lần tôi đánh liều gọi, nhưng khi họ trả lời, tôi lại gác máy, bởi lẽ ... Ý tôi là, tôi muốn làm lắm chứ, và tôi biết mình phải làm, nhưng tôi cũng biết Arthur, biết ổng nổi khùng lên là ghê gớm thế nào. Ổng sẽ hành hạ tôi và Jenny. Và tôi cứ mơ thấy bọn tôi sẽ trở về với căn hộ tồi tàn ấy.”

    “Trời,” Eliot thở dài, tự hỏi nàng sẽ nghĩ gì khi thấy căn hộ của anh.

    “Nghe thảm não quá phải không anh?” nàng nói.

    “Đâu tới nỗi!” Eliot nói.

    “Cho tôi xin lỗi nha,” nàng nói. “Tôi sẽ không mượn anh để xả xì trét nữa đâu, hứa đấy.”

    “Ầy,” anh nói. “Cứ mượn lúc nào cũng được mà.”

    “Cảm ơn anh,” đoạn nàng khẽ chạm vào tay anh. Chao ôi.

    Họ đứng tần ngần suốt một lúc, có chút gì đó ngượng ngập giữa hai người, duy không ai muốn khuấy động tình thế đó, và rồi ...

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Tiếng bass đùng đùng báo hiệu sự xuất hiện của con Kia, vù vù băng vào lối đi, chuyện thường tình khi Matt cầm lái. Con xe giật bắn lên trước khi tốp hẳn. Jenny chui ra, Matt theo sau, tay cầm sẵn cái CD.

    “Jenny muốn mượn nó không?” nó nói.

    “Muốn chớ sao không, cảm ơn Matt nha,” Jenny nhỏng nhảnh đáp. “Mình mê ban Seminal Fluids lắm.” Sự thực cô đã nghe mòn cái CD này rồi; cô chỉ mượn với mục đích trả lại, để có cớ được nói chuyện tiếp với Matt thôi. Lúc cô cầm chiếc CD, bàn tay hai đứa khẽ chạm vào nhau. Chao ôi.

    “Ba lái,” Eliot tuyên bố, ngạc nhiên khi thấy thằng Matt không cự nự. Coi, Eliot nghĩ, cái điệu này chứng tỏ hoặc Matt đang yêu, hoặc nó đang bị sang chấn tâm lý quá.

    Bốn người bọn họ đứng bên con xe trong vài giây.

    “Ừm,” Eliot nói, với Anna, “Chào cô.”

    “Chào anh.” Anna, với Eliot.

    “Chào cậu.” Jenny, với Matt.

    “Chào cậu.” Matt, với Jenny.

    “Ngồi xuống.” Jenny, với Roger, đang kiểm tra cái CD có ăn được không.


    Trên đường đi, Eliot khởi sự bật chế độ Phụ Huynh Giảng Đạo, “Nghe nè, Matt, con ...”

    “Con biết rồi,” Matt nói.

    “Ừm,” Eliot nói, “con không nên...”

    “Con biết mà,” Matt nói.

    “Ừm, OK,” Eliot nói, “có điều mẹ con ...”

    Ba, con nói con biết rồi mà,” Matt nói.

    “OK, vậy thôi.” Eliot nói.

    Và họ buông mình vào thinh lặng, mỗi người đắm chìm trong mớ hồi tưởng lộn xộn của buổi tối hôm ấy. Tại nhà Herk, Anna, Jenny, và Nina cũng làm điều tương tự, cả Puggy trong cái cây của nó nữa. Trong mỗi trường hợp, đó đều là những hồi ức dễ chịu một cách bất ngờ, nếu xét rằng đêm hôm ấy đã bắt đầu bằng việc có ai đó đã muốn giết ai đó.


    ARTHUR HERK khá chắc lão biết ai đó và ai đó là ai, và cố nhiên lão còn lâu mới thấy dễ chịu. Lão suy tính cấp bách về tình thế hiện tại, và đã quyết định việc sẽ làm. Sau khi tự rót cho mình một ly rượu khác, lão quay số từ chiếc điện thoại đặt trên quầy bar phòng gia đình.

    “Tao đây,” lão nói với người ở đầu bên kia. “Phải.” Lão tợp một hớp rượu, đưa mắt ngó cái lỗ đạn.

    “Nghe này,” lão nói. “Tao cần một quả tên lửa.”
     
  6. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    BỐN



    “Cho con mẫu khom xuống xíu nữa là ngon,” Khách Hàng Âm Binh Béo Đần góp ý, “khoe thêm tí gazomba.”

    “Ý kiến hay, thêm gazomba,” Eliot gật đầu, làm bộ chép vô sổ như sợ quên. Anh còn hơi sức nào để tranh cãi vào sáng nay nữa, phờ phạc quá rồi. Thật là một đêm ròng rã: Anh đưa Matt về nhà lúc 2 giờ sáng, và dành bốn lăm phút tiếp theo để nghe vợ cũ, Patty, xạc cho một trận tơi bời khói lửa. Patty nào phải tuýp người hở tí là mắng mỏ, nhưng nàng luôn nhìn ra ngay đâu là quyết định hồ đồ của một bậc phụ huynh.

    “Anh biết trước cái vụ này?” Patty nói. “Anh biết nó đang sửa soạn xách súng vô nhà người ta, vào ban đêm? Ở Miami? Và anh cứ để nó đi?”

    Súng nước mà,” lời phân trần của Eliot khiến Patty trợn trừng cặp mắt, tới mức anh lo sợ chúng sẽ nẩy poóc ra ngoài và dội tưng tưng trên sàn nhà bếp. Patty luôn là người chín chắn hơn nhiều so với Eliot; đó là nguyên do cốt tử dẫn đến đổ vỡ hôn nhân giữa họ.

    Eliot gần như nín khe sau đó. Anh chỉ đứng ngây như phỗng và đón nhận dòng thác chỉ trích tuôn xối xả lên mình, bởi anh biết Patty hoàn toàn đúng: anh đích thị là một thằng cha ngu xuẩn vô trách nhiệm đã để con mình lâm vào một tình thế hiểm nguy. Đâu đã hết (Patty nhắc khẽ, tránh để Matt nghe thấy), anh đã khất tới năm tháng tiền cấp dưỡng và chi phí nuôi con ăn học.

    “Xin lỗi em,” Eliot nói lúc sắp sửa rời đi. “Anh đang làm việc hết sức.”

    “Em biết,” Patty nói. “Bởi vậy em mới lo.”

    Trên đường lái xe về, Eliot miên man suy ngẫm về cảnh ngộ bản thân: Anh là một thất bại toàn diện trên cương vị làm chồng lẫn làm cha; công việc hiện tại của anh là một trò đùa; tiền đồ tuyệt nhiên không có, và anh đang lái một con Kia. Thúc ép các tế bào não hoạt động hết công suất, cưỡng lại mọi bản năng, anh cố đề ra một kế hoạch hợp lí nhất, khả thi nhất để chấn hưng đời mình. Và một ý tưởng xẹt qua trong trí anh: tự tử. Phải rồi, anh sẽ viết một lá thư tuyệt mệnh (nửa hóm hỉnh nửa xúc động), bận một chiếc quần lót sạch sẽ thơm tho, và rồi trầm mình từ cái ban công ọp ẹp tại căn hộ ọp ẹp của mình xuống bãi đỗ xe, ráng canh sao cho trúng con Trans Am 1987 của thằng khốn phòng 238 tối nào cũng mở nhạc ầm ĩ từ dàn âm ly Death Star của nó, và ... chạch, xịt mắm, mọi vấn đề được giải quyết. Bảo hiểm nhân thọ của anh sẽ giúp Matt hoàn thành đại học. Tại tang lễ, mọi người sẽ nhắc lại những phóng sự văn học anh đã chắp bút, và mô tả anh như một người “phức tạp” nhưng “mẫn tuệ”.

    Dòng tư tưởng đó an ủi Eliot phần nào, cho đến khi anh nhớ ra mình quá sợ độ cao để có thể nhảy lầu. Đến đứng nướng hot dog ngoài ban công anh còn không dám nhìn ra lan can nữa nói chi. Rồi bảo hiểm nhân thọ đâu ra? Anh làm gì có cái nào? Suy đi tính lại, quyết định sau rốt của anh là: sống tiếp và thất bại tiếp.

    Quay quắt về lại căn hộ của mình lúc 3 giờ sáng, anh dành bốn tiếng tiếp theo để tợp cà phê đen và tập trung vào dự án Bia Đầu Búa, sáng mai là phải có cho người ta rồi. Anh đã dự định thực hiện nó với một ý tưởng hết sẩy nguyên thủy, hết sẩy tưởng tượng, hết sẩy sáng tạo và hết sẩy thuyết phục – đến mức ngay cả Khách Hàng Âm Binh Mập Đần cũng phải công nhận nó hết sẩy con bà bảy. Nhưng bởi đã quá khuya và quá mệt, anh đành song hành với: vú bự.

    “Tao là điếm, hài lòng chưa?” anh lầu bầu độc thoại trong lúc làm việc. “Có vấn đề gì không?”

    Và khi Khách Hàng Âm Binh Béo Đần cà rịch cà tang bước vào văn phòng Eliot sáng hôm sau, trễ bốn lăm phút, chẳng buồn gõ hay đóng cửa, hắn thấy một hàng chữ to đùng trên giá gỗ


    PHÊ VỚI ĐẦU BÚA!


    Dưới hàng chữ là bức minh họa Eliot thiết kế bằng cách chắp vá những hình ảnh lượm lặt từ Internet. Nó có một gã người mẫu bóng nhẫy, lực lưỡng đang nhếch mép cười trên chiếc mô tô nước, nhận chai Bia Đầu Búa từ tay một nàng người mẫu có bộ ngực nom in hệt hai trái banh bóng chuyền, và diện quả bikini dây mỏng lét như một sợi DNA.

    Hình ảnh trong bức minh họa không hài hòa về tỉ lệ, bởi Eliot vốn chỉ biết quọt quẹt về máy tính, mà muốn đọc hướng dẫn cũng đành chịu bởi tìm không ra cặp kiếng. Bởi vậy mà gã người mẫu, so với cô gái, nom nhỏ bé đến khôi hài, như một con chồn lực lưỡng, bóng nhẫy đang nhếch mép cười; thậm chí một bên vú của cô gái còn to hơn cái đầu hắn. Chai bia thì hiện lên với kích thước của một trụ nước cứu hỏa. Nhìn kiểu gì cũng chỉ thấy đó là một thảm họa thiết kế, nên cố nhiên là Khách Hàng Âm Binh, ngoài chuyện muốn thấy nhiều gazomba hơn, cho rằng nó đỉnh vãi chưởng.

    “Thấy chưa?” hắn quay sang Eliot, nói với giọng hí hửng. “Thấy sự khác biệt chưa?”

    “Ờ,” Eliot ậm ừ, “nhìn chung thì ...”

    “Anh có VÚ BỰ! Thay vì CÁ BỰ!” Khách Hàng Âm Binh nhấn mạnh. “Hiểu chớ? Nghe thủng chớ?”

    “À,” Eliot nói, “tôi ...”

    “Cứ hỏi bất kì thằng nào xem nó muốn gì, vú hay cá, coi nó trả lời anh sao,” Khách Hàng Âm Binh tiếp tục.

    “Tôi đoán là ...”

    “NÓ SẼ NÓI: VÚ!” Khách Hàng Âm Binh đắc thắng.

    Gã kiểm toán viên phòng bên thình lình xuất hiện trên ngưỡng cửa văn phòng Eliot, nhìn anh không chớp mắt trong năm giây, đoạn sập cửa cái rầm.

    “OK, chốt nghen,” Eliot nói, “nội dung coi như xong rồi, còn vị trí đặt nữa thôi, nhưng trước tiên ...”

    “Cổ có ở đâu đó quanh đây không?” Khách Hàng Âm Binh hỏi, trỏ ngón tay chuối mắn của hắn vào cô nàng gazomba.

    “Ờ không,” Eliot đáp. “Cổ ở ... ờ ... Uruguay.”

    “Uruguay?” Khách Hàng Âm Binh nhíu mày. “Uruguay có vú vê cỡ này sao?”

    “Ồ, vang danh bốn bể ấy chứ,” Eliot nói càn, “Người ta thường gọi: ‘Uruguay: Thủ Đô Bưởi của Thế Giới’ mà! Nhưng tôi nghĩ ta nên nói sơ qua chút về, ờ, chi phí của anh, bởi ...”

    “Uruguay ở mô?” Khách Hàng Âm Binh hỏi tiếp. “Phải nó ở, gì ta, Châu Âu đúng không?”

    “Không,” Eliot nói, “Nó ở Mỹ La Tinh. Chuyện là, tôi đã gửi đến anh một số thông báo, có điều ...”

    Mỹ La Tinh?” Khách Hàng Âm Binh chắt lưỡi, ngắm nghía cô nàng gazomba với một niềm thích thú mới mẻ. “Nói vậy đây là một con mọi?”

    “Này anh,” Eliot thở dài. “Ta thật sự cần phải ...”

    “Nhiêu?” Khách Hàng Âm Binh nói, mắt vẫn châm bẫm vào cô nàng gazomba.

    “À,” Eliot nói, “không có cọc, à, đã có cọc, không, ý tôi là tôi đã gửi thông báo yêu cầu đặt cọc, nhưng anh không ... cũng có khi nó chưa qua hộp thư, nhưng ...”

    “Nhiêu?” Khách Hàng Âm Binh quay sang Eliot.

    “Đây anh,” Eliot chìa cho hắn bản chi phí.

    Khách Hàng Âm Binh đưa mắt nhìn tờ giấy.

    “Một nghìn hai trăm đô la?” hắn thốt lên.

    “À,” Eliot nói, “hãy ghi nhận là ...”

    “Một nghìn hai trăm đô la chết tiệt?” Khách Hàng Âm Binh xéo xắt. Hắn tốn nhiều hơn nghìn hai trăm đô mỗi tháng để đánh bóng nửa đầu sau của mình, duy thằng này thực sự sung sướng khi nhìn kẻ khác ngóc cổ chờ tiền của mình. Chuyện đó kích thích hắn như sex vậy.

    “Chậc,” Eliot chắt lưỡi, “đó là một cái giá phải chăng, ý tôi là, nếu anh nhìn vào ...”

    Eliot bỗng im bặt ngay cả khi không bị chặn họng, bởi trước sự sửng sốt của anh, Khách Hàng Âm Binh đang lôi cuốn sổ séc ra, rồi đến cây bút mực của hắn. Cây bút nom cũng mập như thằng chủ. Khách Hàng Âm Binh, cảm biết được nỗi hi vọng khốn cùng của Eliot, rề rà viết séc; nắn nót xé nó ra, đoạn cầm vỗ vỗ lên bàn tay múp míp của hắn, ngắm nghía Eliot trước khi đưa nó cho anh.

    Eliot nhìn tấm séc.

    “Trong này ghi là bốn trăm đô la,” anh nói.

    “Hỏi anh một câu nghen,” Khách Hàng Âm Binh nói. “Ý tưởng này của ai?” Hắn vươn cánh tay mập về phía tấm quảng cáo bia.

    “À,” Eliot nói, “anh quên mất sự đầu tư không thể chối cãi về thời gian và công ...”

    “AI NGHĨ RA Ý TƯỞNG VÚ?” Khách Hàng Âm Binh rống lên. Ngoài hành lang dội vào một tiếng sập cửa; Eliot biết gã kiểm toán viên đã rời văn phòng để đi kiếm người quản lý tòa nhà.

    “Anh,” Eliot nói.

    “Anh có thấy con cá nào trong hình không?” Khách Hàng Âm Binh hỏi.

    “Không,” Eliot nói.

    “Theo cách tôi nhìn nhận,” Khách Âm Binh nói, “tôi đã nghĩ ra ý tưởng. Đó là ý tưởng CỦA TÔI.”

    Eliot ngó tấm séc, rồi ngó tấm quảng cáo xôi thịt quái đản, rồi lại ngó tấm séc. Anh cúi gằm mặt vào tấm séc hồi lâu. Đến khi cất lời, anh thậm chí không ngước mắt lên.

    “OK,” anh nói.

    Khách Hàng Âm Binh, nhoẻn một nụ cười nọng mỡ, quay lại nhìn tấm quảng cáo.

    “Vú vê thế kia,” hắn lắc đầu, chép miệng. “Mà lại của một con mọi nữa mới ác.” Và rồi, không lời cáo từ, không buồn khép cửa, hắn dông thẳng.

    Eliot vẫn nhìn tấm séc.

    “Tao là điếm,” anh chua chát tuyên bố, với cái văn phòng của mình.

    Điện thoại reo, và Eliot nghiêng về việc không bắt máy hơn, bởi đó rất có thể là tay quản lý tòa nhà gọi để thông báo (a) anh đang làm phiền những người thuê nhà khác, và (b) anh đang nợ hai tháng tiền nhà. Song cũng có thể là Matt gọi. Anh nhấc máy.

    “Eliot Arnold,” anh nói với giọng thủ thế.

    “Chào anh,” một giọng phụ nữ cất lên, Eliot nghe tim mình nhảy dựng. “Tôi là Anna Herk.”

    “A, là cô đó hả,” Eliot nói, hồi tưởng đến đôi mắt nàng.

    “Matt sao rồi anh?” Anna hỏi. “Nó ổn chứ?”

    “Ôi dào, nó khỏe re,” Eliot nói. “Thanh niên mà.”

    “Thiệt tình tôi áy náy ghê vậy đó,” Anna nói.

    “Ầy, chuyện nhỏ mà cô ,” Eliot nói. “Phải ăn đòn nó mới biết khôn ra, miễn đừng ăn đạn là được.”

    “Nói gì ghê vậy anh,” Anna cười khúc khích. “Nói chứ tôi rất xin lỗi vì đã nhảy lên người cháu nó. Và tôi cũng rất xin lỗi đã bắt anh nghe mình ca cẩm sự đời. Làm vậy chẳng phải chút nào.”

    “Cô làm đúng mà,” Eliot nói, “Đêm hôm nó tới đó là bậy rồi.”

    “À, còn chuyện này,” Anna nói, “ngoài chuyện gọi đến để xin lỗi lần nữa, tôi muốn hỏi chẳng may anh có bỏ quên cái kiếng đọc nào không?”

    “À,” anh nói, “thú thật là có.”

    “Gọng sừng phải không anh?” nàng hỏi.

    “Đúng rồi.”

    “Sản xuất ở Đài Loan?”

    “Bốn đô chín mươi chín, ở hiệu thuốc Eckerd.”

    “Cha,” Anna nói, “tôi mới thấy nó lần đầu đấy.”

    Eliot cười khà khà.

    “Thiệt mà anh,” nàng nói, “tôi mới thấy nó ở phòng gia đình đây thôi, và tôi đang tính ghé qua để trả anh.”

    “Mất công cô quá,” Eliot nói. “Ba cái đồ thiên lôi ấy mà ...”

    “Đi mà anh,” nàng nói, “tôi muốn được tận tay trả anh cơ.”

    Chao ôi.

    “OK,” Eliot nói.

    “Hình như anh ở khu Grove đúng không?” nàng hỏi.

    “Đúng đó cô.”

    “À, chiều nay tôi cũng có việc phải qua bên đó, sẵn tôi ghé chỗ anh luôn nha.”

    Eliot đảo mắt một lượt cái văn phòng hom hem, bụi đóng lớp lớp, nhìn-là-thấy-mạt của mình, điểm sáng duy nhất chính là cô nàng gazmoba.

    “Hay thôi,” anh nói, “cô đã cơm nước gì chưa? Hổng ấy mình đi đâu kiếm gì đó lót dạ vậy, cô thấy sao?”

    “Anh đang rủ tôi đi ăn trưa đấy ư?”

    “À không, ý tôi là, trong trường hợp cô ...”

    “Ăn trưa nghe hấp dẫn đó nha.”

    Trời.

    “Cô có biết quán Taurus không?” anh hỏi.

    “Biết chớ.”

    “Vậy một giờ được không cô?”

    “Một giờ là hoàn hảo.”

    “Tốt quá! Vậy hẹn gặp cô lát nữa nghen.”

    “OK, chào anh nghen.”

    “Chào cô nghen.”

    Eliot gác máy và nhìn cái điện thoại, bụng bảo dạ: Một cuộc hẹn! Đại loại vậy!

    Rồi anh nghĩ: Ngưởi ta đã có chồng rồi cha ơi, người ta chỉ đến trả kiếng cho cha thôi, và cha chỉ là thằng phế vật.

    Song ý nghĩ ấy không ngăn được niềm hạnh phúc phi lý dâng trào trong anh, khi anh luýnh xuýnh khóa cửa lại và – men theo lối thang hậu, nhằm né mặt tay quản lí tòa nhà – phi thẳng ra ngân hàng để đổi tờ chi phiếu của Khách Hàng Âm Binh, nhờ đó anh có thể lo liệu được bữa cơm trưa.



    HENRY VÀ LEONARD hội kiến với liên lạc viên của Penultimate, Inc. tại Dunley’s, một nhà hàng sang trọng tọa lạc trên Đại Lộ Brickell. Nó được bài trí như một câu lạc bộ đàn ông đặc tuyển với cơ man gỗ sồi và những bức tranh giả cổ, là điểm đến quen thuộc của giới thương gia, muốn gây ấn tượng tốt với khách hàng bằng việc thết đãi họ những tảng bít tết to không thua gì mấy con ngựa Shetland.

    Liên lạc viên của Penultimate là một người đàn ông tên Luis Rojas, với chức danh là chủ nhiệm của những hoạt động đặc biệt. Họ ngồi tại góc phòng, cạnh một bàn có bốn gã luật sư đang bình luận om sòm về các câu lạc bộ golf. Henry và Luis Rojas hạ giọng hết mức; trong khi Leonard, chưa hết sây sẩm từ cú thiết đầu công, chủ yếu ngồi trệu trạo mấy miếng thịt.

    “Ông chủ của tôi đang lo,” Rojas nói với Henry.

    “Vậy hả?” Henry nói, thái một lát bít tết.

    “Phải,” Rojas nói. “Ngài rất lo, và ngài muốn biết khi nào ông định hoàn tất công việc.”

    “Có vài chuyện tôi cũng muốn biết,” Henry nói. “Chẳng hạn, thằng nào chạy lăng xăng ở đó với khẩu súng trường trên tay, và thằng nào đã úp sọt tôi từ trên cây?”

    “Thằng trên cây nào kia?” Rojas hỏi.

    “Thắc mắc cái chỗ đó,” Henry nói. “Ông đưa tụi này xuống đây, phán chắc nịch công việc này cũng đơn giản như mọi khi thôi. Đi vào và đi ra, ông nói. Không có bảo vệ gì ráo, cũng cái miệng ông luôn. Rồi coi, tôi có thằng Geromino đùng đùng xông vô nhà, và thằng Tarzan suýt làm mình gãy cổ.”

    “Cả con nhỏ,” Leonard chêm vào trong lúc đang nhai.

    “Con nhỏ nào nữa?” Rojas hỏi.

    “Ngoài trời, cạnh bức tường, với Tarzan,” Leonard đáp. “Có một con nhỏ.”

    Rojas trầm ngâm.

    “Nghe này,” lão nói. “Như tôi đã nói, ông chủ của tôi đang lo ghê lắm, nên ông cứ cố xong sớm chừng nào tốt chừng nấy. Nhưng ngài cũng khá băn khoăn về bọn người kia, sao khi không lại có kẻ muốn ... nhúng tay vào. Thôi thì cứ cho chúng tôi biết bất cứ gì ông khai thác được, coi như phần mở rộng của công việc vậy.”

    Ở bàn bên, bốn tay luật sư đang nhâm nhi rượu cognac, và cùng châm lửa mấy điếu xì gà.

    “OK,” Henry nói, thái một lát bít tết khác. “Bọn tôi có thể hoàn thành công việc, và sẽ cố tìm hiểu về Geromino và Tarzan. Song nhờ ông gửi lời đến ông chủ của mình: một, bọn tôi cần thêm thời gian, ngó đông ngó tây, khảo sát mấy cái cây, hiểu chứ? Và hai, thù lao sẽ tăng lên.”

    Bốn gã luật sự đang kéo xì gà khí thế; khói thuốc cuồn cuộn bốc lên từ bàn như rồng bay phượng múa.

    “Bao nhiêu?” Rojas hỏi.

    “Chờ tôi chút,” Henry nói và đặt nĩa xuống. Đoạn hắn nhổm dậy khỏi ghế, tiến đến bàn bên cạnh và đứng đực ở đó, chờ đợi, cho đến khi bốn gã luật sư ngừng tán dóc và liếc nhìn hắn.

    “Thưa các ông,” Henry nói, “Các ông cảm phiền dập mấy điếu xì gà đó đi được không?”

    Gã luật sư bên trái Henry, Luật sư A, nghẹo đầu một cách rất kịch và làm vẻ mặt ngơ ngác, tuồng như hắn chưa nghe thủng.

    “Phiền anh nhắc lại?” hắn nói.

    “Tôi đã hỏi,” Henry nói, “các ông có phiền không nếu phải dụi mấy điếu xì gà đó đi.”

    “Thú thực, tôi thì có phiền đấy,” Luật sư A nói. Luật sư B, C và D rúc rích cười.

    “Sở dĩ tôi hỏi vậy” Henry điềm đạm nói, “là vì, có lẽ mấy ông chưa từng nghĩ tới điều này, nhưng khi các ông đốt mấy của nợ này lên, những người còn lại phải lãnh đủ mùi khói từ các ông. Tôi có món thịt thăn viền mỡ New York ngon lành ở đây, tốn của tôi hai mươi bảy đô năm mươi, và giờ in hình như tôi đang nhai một điếu xì gà vậy.”

    “Nghe nè, Tí,” Luật sư B lên tiếng, “Một, không có luật nào cấm hút thuốc trong nhà hàng. Và hai, anh đi quá giới hạn rồi đó.”

    “OK,” Henry vẫn bình thản nói, “Một, tên tôi không phải Tí hay Tèo. Hai, tôi không nói về luật ở đây, không, tôi đang nói về hành vi. Đâu có luật nào cấm tôi đến đây và đánh rắm lên món khai vị của các ông, song tôi không làm vậy, bởi đó là hành vi xấu. Nó làm suy giảm chất lượng bữa ăn của các ông, đồng ý chứ? Nói tóm lại, tôi không phá thối bữa ăn của các ông, các ông cũng đâu nhất thiết phá thối bữa ăn của người khác. Vậy một lần nữa, tôi hỏi một cách rất đường hoàng tử tế, làm ơn dập xì gà đi, OK?”

    “Anh nghiêm túc đấy chứ?” Luật sư C nói từ phía bên kia bàn.

    “Rất nghiêm túc,” Henry nói.

    “Đéo tin được,” Luật sư C cảm khái, với các đồng nghiệp. “Mấy ông tin nổi thằng quần què này không?”

    “Nghe nè, Tèo,” Luật sư D lên tiếng, với Henry. “Bọn tao là những thực khách trả tiền đàng hoàng, và chẳng may bọn tao thích xì gà, nếu mày không thích, thây kệ mày.”

    “Đúng đó Tèo ơi,” Luật sư A tiếp lời. Đoạn gã hóp má rít một hơi xì gà thật sâu, và rồi, kẹp nó giữa ngón cái và ngón trỏ, gã chĩa mồm về phía Henry, phà vào mặt hắn một bụm khói dày đặc. Henry vẫn đứng im như tượng.

    Nhả khói xong xuôi, Luật sư A tiếp tục, “Nghe nè, Tí, sao mày không oé oé ...”

    Không đợi Luật sư A đưa ra hết lời khuyên, Henry đã đặt tay lên vai gã và bóp mạnh. Hắn vốn dĩ không hề muốn động tay động chân, nhưng Luật sư A quá láo.

    Oé oé,” gã lại ré lên.

    Với tay còn lại, Henry giật điếu thuốc từ mồm Luật sư A và nhận nó vào ly cognac của gã. Ba luật sư kia rục rịch như sắp nhổm dậy làm gì đó, Henry lừ mắt nhìn họ theo thứ tự bảng chữ cái – B, C, D – và tên nào tên nấy ngồi xếp re.

    Sau khi buông Luật sư A, kẻ đang ôm vai mếu máo; Henry dấn vài bước quanh bàn đến cạnh Luật sư B, gã này giật bắn người như phải bỏng khi Henry, từ tốn nhưng cương quyết, tịch thu điếu xì gà của gã và thả tõm nó vào ly cognac. Cùng lúc đó Luật sư C và D, không mấy mặn mà với kiểu trợ giúp này, tự giác dụi xì gà.

    “Đa tạ các vị,” Henry nói.

    Luật sư D, người ngồi xa Henry nhất, cất lời, “Anh có biết mình vừa phạm tội hành hung không?”

    “Biết chớ,” Henry nói và lắc đầu. “Đã có thời, ông cần phải thật sự bụp người ta cơ.”

    Nói rồi hắn quay gót trở lại bàn mình, ngồi xuống, và tiếp tục thái bít tết. “Nhắn với ông chủ của ông,” hắn bảo Rojas, “sẽ là mười thiên nữa. Cho mỗi nhiệm vụ.”

    Rojas ra vẻ ngẫm nghĩ về con số ấy, dù nó cũng hòm hòm với dự liệu của lão.

    “OK,” lão nói. “Nhớ là ông chủ của tôi muốn kết thúc vụ này nhanh nhất có thể.”

    “Tin tôi đi,” Henry cười nhạt, “bọn tôi không láng cháng ở cái thành phố này lâu hơn mức cần thiết đâu.”

    “Mày nói chí lí,” Leonard tán đồng, rồi lại trệu trạo tiếp miếng bít tết.



    PUGGY CHOÀNG TỈNH bởi giọng nói của một thiên thần.

    “Puggy,” ôi cái giọng như rót mật vào tai. Pogey.

    Puggy lật sấp người lại và thò đầu ra khỏi mép sàn gỗ. Đó là Nina, trong chiếc rốp đồng phục màu thiên thanh, đang cười tươi như hoa khi trông thấy Puggy. Người đâu mà xinh hết phần thiên hạ. Ngay cả từ trên cây, Puggy vẫn thấy được hàm răng đều tăm tắp của nàng.

    “Em đem bữa trưa cho anh nè,” nàng nói. Em đêm buổi trưa cho anh nè.

    Puggy sửa soạn hạ sơn, chợt nó để ý Nina cứ cười khúc khích chi lạ, chết cha! Nhanh như một chú sóc, nó giật lui về lại sàn gỗ, luống cuống xỏ quần dài vào. Tút tát xong xuôi, nó lại khởi sự leo xuống cây.

    “Hey,” Puggy cất tiếng chào khi tiếp đất. Nó ước gì mình có một cái bàn chải đánh răng.

    “Của anh nè,” cô chìa cho nó đĩa giấy với một chiếc sandwich ở trên.

    Chu cha, nào bánh mì trắng, nào thịt gà tây rưới sốt mayonnaise, thêm rau diếp và cà chua xắt lát. Khỏi nói, đây là món ăn kỳ khu nhất mà ai đó từng làm cho Puggy.

    “Cảm ơn đã cứu em,” Nina nói.

    Puggy nhìn chiếc sandwich tuyệt ngần – trời, lại còn khăn ăn gấp nữa chớ – rồi nó nhìn Nina.

    “Nina,” Puggy nói. “Tôi yêu em.”



    “Vậy mày đang nói với tao là,” Evan Hanratty, chủ xị trò Killer, nói với Matt, “nó quánh mày nhừ tử? Thân mẫu của nó?”

    Đám bồ bịch của nó đang túm tụm tại phòng thể dục của Trung Học Southeast, nơi từ 11:15 cho tới 13:35 trở thành căn tin phụ của trường, nghĩa là thức ăn sẽ đậm mùi quần sịp thể thao chưa giặt hơn so với ngày thường.

    “Bả động thủ từ phía sau,” Matt nói. “Hai đánh một chịu gì nổi. Còn tao, tao không đánh phụ nữ.”

    “Coi bộ mấy bả dập mày nhừ tử đấy,” Evan chắt lưỡi, săm soi môi dưới của Matt.

    “Ừa, phải cám ơn thằng trợ thủ đắc lực của tao,” Matt nói.

    “Ây dà,” Andrew phản pháo, “nói tao điên tao chịu, nhưng có súng nổ là tao biến liền.”

    “Nói vậy vụ súng nổ là thật hả?” Evan hỏi.

    “Mày phải nhìn cái TV,” Matt nói, “Phải gọi nó là một nùi phân tử TV!”

    “Ghê vậy,” Evan nói.

    Cả bọn ngẫm nghĩ về chuyện đó một lúc.

    “Vậy là,” Matt nói, “tao vẫn chưa được tính là giết Jenny thành công?”

    “Chưa đâu,” Evan lắc đầu. “Mày phải xịt nước nó. Luật là luật. Khơi khơi tính điểm cho mấy đứa lăn cù cù trên sàn nhà thì có mà loạn.”

    “Nói chuyện lăn lộn,” Andrew nói, “cảm giác ra sao, kể anh em nghe coi?”

    “Ờ đúng,” Evan hào hứng. “Cảm giác ra sao? Ý tao là, nếu má Jenny nhìn cũng sương sương Jenny ...”

    “Thì đúng vậy còn gì,” Andrew đớp lô.

    “Chà, vậy cảm giác sao?”

    “Im mồm” Matt nói.

    “Ế, hỏi chơithôi mà,” Evan nhăn mặt. “Mày đâu cần ...”

    “Tao nói là, khép mỏ lại đi, Jenny tới kìa,” Matt nói.

    Quả vậy, Jenny đang bước lại chỗ tụi nó. Vụ này lạ à nghen, bởi Matt, Andrew, và Evan đang ngồi ở khu vực khán đài được mặc định là địa phận của những nam sinh Thông Minh nhưng Thờ ơ với Hoạt Động Trường và thích tỏ ra Thông Thái. Jenny thì thuộc khu của những nữ sinh Duyên Dáng Vạn Người Mê. Thường thì, một nữ nhân thuộc khu này sẽ không léo hánh đến bất cứ địa bàn nào khác, trừ khu của những nam sinh Thể Thao, và/hoặc, Cán Bộ Lớp.

    “Chào,” Jenny nói.

    “Chào,” Matt nói.

    “Nó có đau lắm không?” cô chỉ cái môi của Matt.

    “Cũng không đau mấy,” Matt nói.

    “Hổng ấy,” Evan xọc dưa, “Jenny mà mi lên là nó còn mau lành nữa.”

    “Nhiều chuyện,” Matt hằm hừ. Quay sang Jenny nó hỏi, “Nhà Jenny sao rồi?”

    “À, mẹ mình vẫn canh cánh vụ viên đạn,” Jenny nói. “Nhưng ông cảnh sát thì bảo chắc chỉ là thằng đầu trộm đuôi cướp nào đó thôi, và Matt đã hù cho nó chạy mất dép.”

    “Anh hùng cứu mỹ nhân!” Andrew ré lên với giọng falsetto, giả đò ngất xỉu.

    “Nghe này,” Jenny nói. “Mình muốn nói với Matt ba chuyện. Một, cảm ơn Matt. Hai, cảm ơn lần nữa vì cái CD Fluids. Mình thích nó lắm.”

    “Mày cho Jenny mượn cái CD Fluids?” Evan trố mắt.

    “Rồi, hết đường chối cãi,” Andrew nói, “nó muốn cái sex pootie của Jenny chứ gì nữa.”

    “Nín coi,” Matt càu nhàu.

    “Ba là,” Jenny xẻng lẻng, “Mình cảm thấy rất ... có lỗi về chuyện tối ...”

    “Ôi dào,” Matt chắt lưỡi, “Ăn nhằm gì đâu ...”

    “... nên mình muốn cho Matt biết,” Jenny nói, “nếu Matt vẫn còn tính chuyện xịt nước mình, thì tầm tám giờ tối nay, khu CocoWalk, bên ngoài quán Gap, mình sẽ có mặt ở đó. OK?”

    “OK,” Matt nói.

    “Gặp Matt sau nha,” cô nói, rồi quay gót trở về lãnh địa của những Nữ.Sinh Duyên Dáng Vạn Người Mê.

    Ba thằng ngẩn tò te nhìn cô bước đi.

    “U trời,” Andrew chắt lưỡi.

    “Nếu Matt muốn xịt nước mình’?” Evan léo nhéo. “Nếu Matt muốn xịt nước mình’?”

    “Im mày,” Matt làu bàu.



    ELIOT ĐỢI Anna trên hiên trước của bar Taurus, một điểm đến thiện lành khả kính dành cho các cư dân luống tuổi, có dấu hiệu phát phì, muốn lánh mình khỏi những cảnh xoắn quẩy nhức mắt của cánh săn mồi độc thân, trẻ trung, bụng phẳng ở mấy quán bar lập lòe đầu bên kia Main Highway.

    Để đỡ buồn, Eliot theo dõi hai vị khách quen cựu chiến binh đang chơi trò Chiếc Vòng, những chai bia rỗng sắp hàng hàng minh chứng cho một ngày Thứ Sáu xả láng sáng dậy sớm. Tự hồi nảo hồi nao, ai đó đã mắc sợi dây treo chiếc vòng kim loại ấy vào một cành cây trước thềm quán Taurus; mục tiêu của trò chơi là kéo giật chiếc vòng và canh sao để khi thả ra, nó sẽ bung lên và bọc lấy một cái sừng chĩa ra từ rìa mái hiên quán Taurus. Hai chiến binh lão thành đã chơi trò này suốt hơn một tiếng đồng hồ, với cường độ và sự tập trung không kém gì các bác sĩ phẫu thuật não. Hai ông bác hầu như bách phát bách trúng. Điệu bộ của họ như muốn nói: thường thôi chớ có gì đâu.

    “Phải tôi thì tôi xin hàng sớm,” Giọng Anna vang lên từ sau lưng Eliot.

    “Ể!” anh quay lại. “Tôi cũng chịu thôi. Tôi nghĩ mánh ở đây là phải nốc bia nhiều vào.”

    “Vậy ra,” nàng nói, “đây là quán ruột của anh đấy ư?”

    “Ừ,” Eliot gật đầu. “Tôi từng tham dự thổi phi tiêu ở đây mà.”

    “Họ tổ chức thổi phi tiêu?”

    “Thứ Hai hàng tuần, đến hẹn lại lên.” Eliot nói.

    Anna bật cười khanh khách, khiến một thí sinh Chiếc Vòng đang điều chỉnh thước ngắm liếc mắt sang và nhíu mày trách móc. Anna thấp giọng hỏi, “Họ thổi ngay trong quán luôn hả?

    “Không, vậy mạo hiểm quá,” Eliot nói. “Họ tổ chức trên hàng hiên này luôn, vừa 1 2 3 dzô vừa cố nhắm trúng tấm bia đặt cách vỉa hè chưa tới một thước, nơi dân chúng thiện lành đang bát phố.”

    “Cẩn tắc vô áy náy,” Anna nói. “Mà anh thổi có giỏi không?”

    “Ầy, trật lất miết, cũng may chưa trúng thường dân vô tội lần nào, tôi đoán vậy. Dĩ nhiên lúc đó khá tối. Nhưng dù sao cũng chưa nghe bà con nào la lên ‘thằng nào bắn tao’. À, cô muốn vào ăn trưa chứ?”

    “Ừ, mình vào thôi.”

    Họ sánh đôi bước vào quán và ngồi tại một cái bàn gần cửa sổ. Anna trả lại Eliot cặp kiếng để anh có thể đọc được menu. Họ cùng gọi sandwich cá và trà đá.

    “À,” Eliot nói, “rồi cảnh sát người ta có phát hiện được gì không?”

    “Không,” Anna nói, “tôi cũng không nghĩ họ sẽ tìm được gì. Tôi nghĩ mình thuộc tuýp người lãng mạn; tưởng tượng các thanh tra sẽ đi loanh quanh với mấy cái kính lúp, anh biết mà? Truy lùng manh mối!”

    “Bới lông tìm vết!” Eliot phụ họa. “Phân tích các sợi!”

    “Ừa,” Anna nói. “Ấy vậy mà họ lại kiểu như, ‘Rồi, có người muốn bắn anh. Thế thì sao?”

    “Trời, nội nghĩ thôi cũng thấy ớn, chuyện không biết kẻ nào đã làm vậy ấy.”

    “Hoặc chẳng biết bọn chúng có quay lại không.”

    “Cô nghĩ bọn chúng sẽ quay lại?”

    “Chẳng biết nữa. Nhưng tôi có cảm giác chồng mình đang giấu diếm gì đó. Ổng hành xử quái lạ lắm, ngay cả đối với ổng. Đốc chứng gì mà đi đâu từ tối qua tới sáng nay chưa về. Nói thực tôi còn lấy làm mừng vì chuyện đó, nhưng thôi, tôi đã hứa sẽ không khơi lại đề tài này rồi mà.”

    “Không sao mà,” Eliot nói, “Thật đấy.” Anh còn thấy thích là đằng khác, chuyện nàng khơi lại đề tài đó.

    “Thôi,” nàng nói. “Nói về tôi nhiều quá rồi. Nói về anh đi. Anh làm nghề gì vậy?”

    “Quảng cáo.”

    “Loại quảng cáo gì thế?”

    “À thì, hôm nay tôi đã làm một quảng cáo gazomba.”

    “Quảng cáo gì cơ?”

    “Gazomba. Kiểu như, nhìn cặp gazomba bá cháy chưa kìa ấy mà.

    “À.”

    “Thôi, ta nên trở lại chuyện hôn nhân của cô thì hơn.”

    “Không, tôi muốn nghe thêm về cái quảng cáo gazomba ấy.”

    Vậy là bên ly trà đá, anh trải lòng với cô về Bia Đầu Búa, về Khách Hàng Âm Binh Béo Đần, về gã kiểm toán viên phòng bên ghét mình như muốn xúc đất đổ đi. Anh kể cô nghe về sự thăng hoa và lụn bại trong nghiệp báo chí của mình. Rồi đến chuyện anh và Patty đã quen nhau ở đại học, đã rơi vào lưới tình, và hai đứa đã dắt nhau đi nhảy hết biết trời đất ra sao. Và rồi cu Matt chào đời, và điều đó kì diệu xiết bao, nhưng hai người họ thôi hẳn chuyện đi nhảy cùng nhau. Đợi Matt lớn chút rồi mình bắt đầu lại mấy hồi, họ hứa với nhau như thế. Nhưng đó chỉ là lời hứa suông, thét rồi chẳng ai đả động gì đến chuyện nhảy nhót nữa. Sự thực là, hai người chẳng nói chuyện với nhau được mấy nữa, và họ chỉ thi hành nghĩa vụ giường chiếu khi không ai nghĩ ngay ra được cách thoái thác, điều hiếm khi xảy ra, bởi một lời thoái thác, thường bắt đầu với “Tối nay sao mệt quá” – chính xác là điều mà họ cảm thấy trong mọi đêm. Anh bộc bạch về sự đau đớn dai dẳng trên hành trình lê xuống con dốc ly hôn, và anh đã cảm thấy ray rứt thế nào, và Matt đã hiểu chuyện ra sao, và chính điều đó càng làm anh ray rứt hơn. Anh nói mình đang lái một con Kia.

    “Tới phiên cô,” anh nói.

    Nàng kể chuyện mình đã kết hôn hai lần. Lần đầu là với một gã nàng đã hẹn hò trong hai năm cuối Đại Học Florida, đội trưởng đội tennis, con nhà giàu, và đẹp trai ác chiến tới nỗi tất thảy mọi người, nhất là thân mẫu nàng, đều khoan vào đầu nàng ý nghĩ họa có điên nặng mới không lấy chàng, bởi họ sẽ làm nên một Cặp Đôi Hoàn Hảo.

    “Chúng tôi có một hôn lễ tuyệt vời, không có bất cứ trắc trở gì,” nàng nói, “cho đến có lẽ là giờ thứ hai của tiệc cưới, khi cô phù dâu tiết lộ với tôi trong phòng phụ nữ, rằng lang quân mới của tôi vừa thọc lưỡi chàng vào miệng cô ấy sâu lút đến tận amiđan. Gã này đơn giản là không thể giữ súng ống của mình trong quần được. Hắn như Bill Cliton ấy, thiếu mỗi các chính sách đối nội thôi.”

    Nhưng nàng mắc kẹt với hắn, bởi mẹ nàng bảo: con phải Kiến Tạo Hạnh Phúc Gia Đình.

    “Vấn đề là,” nàng nói, “trong lúc tôi ra sức kiến tạo hạnh phúc gia đình, thì hắn ra sức thịt bằng hết mọi phụ nữ ở Hạt Dale và Broward, và nhìn chung đã gặt hái được thành công. Đừng bao giờ cưới một gã đẹp trai ác chiến.”

    “Tôi sẽ không,” Eliot cam đoan.

    “Vậy là,” nàng nói, “sau khi bé Jenny chào đời, có lẽ là vào lần thứ năm mươi hắn mất đến ba tiếng đồng hồ để đưa cô giữ trẻ về nhà rồi quay lại, tôi đệ đơn ly dị. Tới lúc đó tôi mới biết được lí do mà nhà hắn giàu nứt đố đổ vách, ấy là đừng có mơ mà lấy được xu mẻ nào của họ.”

    “Cô không có luật sư sao?” Eliot hỏi.

    “Ồ, thì tôi có luật sư chứ. Nhưng cái mà chồng cũ của tôi có nó như là cả Tối Cao Pháp Viện ấy. Thành thử về cơ bản hắn được giữ lại tất cả gia sản, còn tôi được giữ Jennifer. Và do đó mẹ con tôi phải sống lay lắt trong một căn hộ tồi tàn, và Arthur mới trông như một mối tốt với tôi, và đó là điều tôi đã hứa sẽ không khơi lại nữa.”

    Bốn ly trà đá kết thúc bữa ăn trưa. Trên đường rời bar Taurus, Eliot và Anna thấy mình được nghênh tiếp bởi hai cựu chiến binh Việt Nam tàn tật vô gia cư. Trừ việc chúng không thực sự là cựu chiến binh Việt Nam tàn tật vô gia cư; chúng là Eddie và Snake, những kẻ lần lượt chín và sáu tuổi khi chiến tranh Việt Nam kết thúc. Cái chân bị thương của Snake đã gợi cho chúng ý tưởng trở thành cựu chiến binh; lê lết cùng khắp khu Grove, xin đểu bá tánh, và phải ngày đẹp trời thì kiểm khẳm với việc giúp thiên hạ đỗ xe. Eddie coi đây là một bước tiến lớn đầy hứa hẹn trong sự nghiệp.

    “Ày, ông bạn,” hắn nói với Eliot, “ông bạn thương tình giúp đỡ một cựu binh tàn tật chớ?

    “Không,” Eliot đáp, anh đâu lạ gì cái mặt thằng Eddie, kẻ lởn vởn suốt ở khu Grove.

    “Đ.mẹ mày,” Eddie chửi. “Còn em sao, người đẹp?” nó quay sang Anna. “Người đẹp muốn cho anh chút gì đó chớ?”

    Thằng Snake, vừa bóp hạ bộ của mình vừa nói oang oang, “Ê, khỏi xin, để tao cho mày chút gì đó nè.”

    Anna và Eliot lẳng lặng rảo bước. Nàng cảm thán, “Thế mà người ta cứ nói sự lãng mạn đã chết.”

    Khi hai người ra đến xe của Anna, nàng mỉm cười nói, “Cảm ơn anh vì bữa trưa nghen.”

    “Có gì đâu,” Eliot nói, “hổng ấy cô cứ giữ lại cái kiếng đó đi, để mình có thể đi ăn lần nữa?”

    Anna bật cười, nhưng không đáp lại. Nàng lục tìm chìa khóa trong túi xách.

    Eliot chợt hỏi, “Mà này, cô có nghĩ tôi đẹp trai ác chiến không?”

    Nàng ngước mắt lên từ chiếc túi xách, nghiên cứu khuôn mặt anh một chặp.

    “Không.” Nàng lắc đầu.

    “Phù.” Anh thở hắt ra.

    Nàng cười khúc khích, đoạn lại săm soi khuôn mặt anh kĩ hơn nữa. Nàng quả nhiên có một đôi mắt xanh không tưởng.

    “Chỉ để anh biết thôi,” nàng giả lả, “tôi nhảy lắm đó.”



    “BÀ NỘI CHA nó,” Eddie nói, nhìn Eliot và Anna te te bỏ đi. “Đối xử với cựu chiến binh vậy đó hả? Quá đáng thiệt, sau những gì chúng ta đã làm cho đất nước này.”

    “Ta có làm con mẹ gì đâu,” Snake nói. “Ta đâu phải cựu chiến binh.”

    “Thì tụi nó biết đéo đâu,” Eddie cay cú. “Mà đáng ra tao đã là cựu chiến binh rồi, nếu hồi đó tao đủ tuổi đăng lính.”

    “Tao nghĩ mày phải tốt nghiệp, coi, lớp tám trở lên thì phải.” Snake nói.

    “SSSìì, lớp mấy kệ đi,” Eddie nói. “Cái tao muốn nói là, tụi này là thứ vong ân bội nghĩa!” Nó khạc một bãi đờm màu đà đà lên vỉa hè. “Coi, riết cả ngày mót được có ba đô.”

    “Nói vụ đó mới nhớ,” Snake nói. “Có vố này tao đang muốn chơi.”

    Eddie chờ đợi.

    “Nhớ thằng bú dù ở quán Jackal không?” Snake nói. “Thằng phang tao què giò đó?”

    “Nhớ.”

    “Nghe đồn nó đang làm ở đó, lúc làm lúc ngồi chơi không.”

    “Ừ thì sao?”

    “Tao tính ghé qua hỏi thăm sức khỏe nó chút đỉnh.”

    “Thôi cho tao can. Thằng bán bar đó dữ như cọp mày ơi. Nó với cái chày của bà nội cha nó.”

    “Ày, cái chày của nó là đồ bỏ, nếu mình có súng.”

    “Ủa mà mình làm gì có súng.”

    “Tao biết một thằng kiếm được, gì chứ một khẩu là chuyện nhỏ, có giao hàng liền.”

    Eddie bỗng trầm ngâm. “Làm chi mà hà rầm vậy,” nó nói. “Cứ me nó ra khỏi quán, chụp đầu nó phải khỏe hơn không?”

    “Bởi trong quán có cái máy tính tiền.”

    Eddie nhìn sững Snake.

    “Vậy thằng bú dù không phải mục tiêu?” nó nói.

    “Ồ, thằng bú dù vẫn là mục tiêu chứ, cái đó miễn bàn,” Snake nói. “Thằng bán bar, cho vô luôn. Rồi tới cái máy tính tiền. Một mũi tên trúng ba con chim, thấy chưa?”

    Eddie lại trầm tư.

    “Gì chứ tao dốt đặc ba cái vụ súng ống à nghen,” nó nói.

    “Tới lúc mày phải học rồi,” Snake nói. “Trở thành cựu chiến binh, tất tần tật.”
     
  7. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    NĂM




    Lúc người đàn ông đó bước vào tiệm Jolly Jackal, Puggy đang ngồi ở quầy bar xem buổi phát lại của Jerry Springer Show trên TV. Đề tài là về chuyện các ông chồng muốn vợ mình cạo quách mớ lông mép của mấy bả đi. Các bà vợ giãy đông đổng, họ bảo rằng mớ lông ấy là quà tặng của thiên nhiên. Phe chồng bảo: OK, công nhận nó là quà tặng của thiên nhiên, nhưng nó vẫn xấu bỏ mẹ. Phe vợ phản đòn: bảo nếu các ông muốn thấy cái gì xấu bỏ mẹ thì cứ nhìn vào gương ấy – để thấy rằng Brad Pitt không lo bị họ truất ngôi. Không ai ở bất kì phe nào trong cuộc đàm luận này nặng dưới tạ mốt. Đến lúc đó vẫn chưa có gì xảy ra, nhưng nhìn cách Jerry Springer lẩn như chạch từ diễn đàn xuống hàng ghế khán giả, Puggy biết xíu nữa có đánh lộn chắc.

    Người đàn ông vừa bước vào Jolly Jackal xách theo một cặp táp, nên Puggy đoán hắn sẽ vòng ra sau quầy để nói chuyện với gã râu rậm, John. Bọn mang cặp táp lúc nào cũng làm vậy.

    Puggy nào phải một trạng nguyên, nhưng nó cũng thấy lờ mờ Jolly Jackal không phải một quán bar bình thường. Ít khách quá: Khách sộp nhất – xét trên phương diện tiêu thụ bia – là Puggy, người không trả tiền. Hoạt động thực sự của Jolly Jackal, Puggy để ý, diễn ra ở sau quầy chỗ cái bàn mà John ngồi. Vài lần trong ngày, một gã, có khi hai ba gã sẽ ghé đến bổn tiệm để bàn bạc gì đó với John. Rồi cứ dăm ba bữa, Leo bán bar lại ngoắc Puggy xuống gian phòng được khóa cùng những cái thùng. Hai đứa lại è cổ lúc khuân lúc đẩy, lúc một thùng lúc hai thùng, lúc vô lúc ra khỏi con Mẹc, đôi khi là một chiếc tải nhỏ, có lần là nguyên con U-Haul.

    Puggy vẫn mù tịt về những thứ có trong thùng. Nếu buộc phải đoán, nó sẽ nói đó là ma túy, dù đó hơi nặng để là ma túy. Với nó thì miễn ngày ngày còn được coi TV và uống bia chùa là quá đủ, hơi sức đâu lo đến mấy cái thùng đựng gì, hay John và Leo là ai chi cho mệt.

    Sự thật thì John và Leo – tên cúng cơm là Ivan Chukov và Leonid Yunanski – là người Nga. Hai đứa hạnh ngộ nhau vào năm 1986, khi cùng phục vụ như những kỹ thuật viên bảo trì trong một đơn vị quân đội Xô Viết. Phần sự của đơn vị này là bảo vệ và phòng thủ - tức chiếm đóng và, nếu cần thiết, san bằng luôn – Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết Grzkjjistan.

    Đó chẳng một công việc trong mơ. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết Grzkjjistan là một quốc gia hẻo lánh, khắc nghiệt, núi non trùng trùng, đậm tính bộ lạc, nơi nền móng của kinh tế được đặt trên việc phục thù, rửa hận. Dân Grkjjistan dành trọn quãng đời người lớn của mình cho việc lên ý tưởng và thực hiện những biện pháp tinh vi để giết và phanh thây đồng bào mình vì những mối thâm thù, nợ máu kéo dài hàng thế kỷ, phần nhiều có liên quan đến những con dê.

    Thành phần duy nhất dân Grzkjstanis ghét hơn đồng bào mình là bọn người ngoài, nên cố nhiên binh sĩ Nga ở đây cũng được dân mến dân yêu như nấm ngoài da vậy. Tình anh em giữa hai quốc gia đã chính thức bị nghiêm cấm, song thỉnh thoảng lại có những đồng chí nảy sinh ý định mèo mỡ với các phụ nữ Grzkjistani. Chuyện này đòi hỏi một sự hứng tình ở cấp độ vô cực, bởi sau hàng thế kỷ giao phối cận huyết, thì một người Grzkjistani trung bình khá, xét mức độ hấp dẫn về mặt thể lý, cũng ngang với một con dê Grzkjistani trung bình khá.

    Song le, những giao lưu quân dân kiểu ấy thi thoảng vẫn xảy ra. Và một khi chúng bại lộ, mà lộ chắc chứ chạy gì khỏi, quân đội đã có được bài học là phải lo tống gấp chiến sĩ có liên quan ra khỏi đất nước này, nếu không muốn tìm thấy đương sự bị trói gô vào một tảng đá, người một nơi dương vật một nẻo.

    Vậy nên đại đa số chiến sĩ nhận trọng trách bảo vệ Cộng Hòa Grzkjinistan đã chọn cách phụng sự khôn ngoan, là ở yên trong trại và uống như hũ chìm, khỏi lo hi sinh lãng. Thiên thời địa lợi nhân hòa, Ivan và Leonard có tất. Bởi là thợ bảo trì, chúng được quyền tiếp cận những thùng kim loại tổ bố đựng các dung môi và chất lỏng mà nếu dùng theo đường uống, có thể gây nên hưng phấn trong não người. Cũng hên xui, một số chất có thể khiến hệ thần kinh trung ương tắt điện luôn; nên bí quyết là phải am hiểu thứ gì an toàn để cho vào, và đong liều lượng ra sao. Tay nghề của Ivan và Leonid trong mảng bảo trì này sớm đạt đến mức lão luyện, và chúng gầy dựng được một đại ly nhỏ khấm khá, cung cấp nước giải khát đã qua chế biến cho các đồng chí của mình để đổi lấy tiền, thuốc lá, băng video Debbie Does Dallas, vân vân. Ivan là bộ não, với tài tổ chức và thương lượng; Leonid là cơ bắp, với tài giữ cho khách hàng trật tự, táng vỡ đầu các thượng đế lộn xộn. Vào giai đoạn phát đạt của đại lý, có lời rỉ tai là nếu đồng chí cần thứ gì đó – không chỉ nước giải khát thôi đâu – thì Ivan và Leonard là những người mà đồng chí cần gặp.

    Vào một ngày của năm 1989, một người đàn ông lặn lội từ Mạc Tư Khoa đến để hội kiến Ivan và Leonid. Y diện bộ đồ may đo rất kẻng, và tự giới thiệu mình là một thương gia, Ivan và Leonard hiểu điều đó có nghĩa y là một tội phạm. Người đàn ông đề nghị một áp phe ngon lành: y sẵn sàng giao đô la Mỹ bằng tiền mặt cho Ivan và Leonid, đổi lại y muốn những khẩu súng máy – mặt hàng lúc bấy giờ chưa có trong kho của Ivan và Leonid.

    Song hùng Ivan và Leonid từ ấy tiến lên một nấc thang mới, từ bọn buôn rượu lậu trở thành những thương gia khí giới. Thời cơ mới chín muồi làm sao: Liên Xô đang đến hồi cáo chung, và Mạc Tư Khoa nội lo miệng ăn núi lở cũng đủ điên, lấy đâu ra trả lương cho những binh đoàn xa lắc xa lơ của nó. Ở những tiền đồn khỉ ho cò gáy như Grzkjistan thì kỷ luật và đạo đức, miễn bàn đến kiểm kê quân kho, là những thứ gần như không hiện hữu. Ivan và Leonid biết tỏng chỉ cần xòe đô Mỹ ra là tha hồ đi chợ quân đội phủ phê. Súng máy hả? Mại zô, mại zô! Xe tăng ư? Dạ mời đồng chí lựa!

    Ivan và Leonid tỏ rõ thiên khiếu trong việc mua bán tài sản quân đội, và sự nghiệp mới của hai đứa thăng tiến như rồng. Khi đã hết thời hạn phục vụ tổ quốc, chúng rời quân đội, song vẫn duy trì được mạng lưới liên lạc trải khắp khu phức hợp quân sự Xô Viết rộng lớn và đang chìm vào hỗn loạn. Chúng mở rộng biên độ khách hàng, vài phen du hành ra hải ngoại, và chẳng mấy chốc đã bắt tay làm ăn với các chính phủ ngoại quốc, bọn khủng bố, những nhà cách mệnh, các tổ chức bán quân sự, những thủ lĩnh tôn giáo, và tụi điên khùng chập cheng ở khắp nơi trên thế giới, Idaho chẳng hạn.

    Trong thị trường buôn bán vũ khí quốc tế, Ivan và Leonid đã gầy dựng được tiếng tăm nhờ vào sự linh động và chăm sóc khách hàng tốt. Không như mấy thằng đối thủ to đầu hơn trong ngành buôn khí giới, đặc biệt là thằng Mỹ, Ivan và Leonid không rầy rà bạn với đủ thứ thủ tục hành chính quan liêu. Chúng không quản ngại đường xa để săn được những món đồ độc. Lấy ví dụ, khi một tổ chức Marxist người Jamaica có tên Mặt Trận Thống Nhất Nhân Dân, đề nghị đổi một lượng lớn cần sa thượng hạng để lấy một tàu ngầm chiến đấu: Ivan đã tài tình môi giới cho một áp phe hết sức nhì nhằng, bao gồm – ngoài hải quân Xô Viết – chính phủ Paraguay, một băng đảng đường phố ở Chicago có tên Cruds, và Nhà Thờ Khoa Học Giáo. Cú áp phe hoàn tất vào sáu tháng sau, trong ngày bàn giao chiếc tàu ngầm bán-cải-tạo của Nga hồi Đệ Nhị Thế Chiến, chiếc Vrmsk. Mặt Trận Thống Nhất Nhân Dân đổi tên nó thành Sư Tử Biển Kiêu Hùng. Tưởng sao, nhiệt tình cách mạng của Mặt Trận Thống Nhất Nhân Dân vượt quá xa kỹ năng hàng hải của nó. Và Sư Tử Biển Kiêu Hùng, trong cú lặn để thực hiện nhiệm vụ cách mạng đầu tiên của nó – một cuộc tấn công ngoài Cảng Kingston nhắm vào chiếc du thuyền Goofy tráng lệ mới coóng của Disney – đã chìm nghỉm như một cái đe. Sự cố đáng tiếc này, tuy vậy không ảnh hưởng đến uy tín của Ivan và Leonid. Tụi nó là dân buôn bán mà, đâu phải huấn luyện viên.

    Vào cuối những năm 90, ngó màu kinh tế Nga đang trên đà xuống hố cả nút, Ivan và Leonid quyết định chuyển cơ sở của chúng ra nước ngoài, và Nam Florida là nơi chúng chọn để an cư lạc nghiệp. Chúng đã ghé qua nơi này vào đợt áp phe tàu ngầm, và rất ưng khí hậu ấm áp ở đây. Chúng càng ưng hải cảng và sân bay hơn, những nơi tỏ ra rất niềm nở với các thương nhân quốc tế. Nếu biết làm ăn với đúng người, bạn có thể tuồn qua bất kể thứ gì, nguyên bầy nô lệ cũng còn được. Súng ống nhập dễ như kẹo. Ivan và Leonid bao giờ cũng trót lọt qua ải an ninh sân bay, cười thầm nhìn đám nhân viên cau có khoác áo nỉ cộc lệch căng mắt săm soi mấy chiếc laptop Toshiba của bọn kế toán viên. Trong khi dưới đó vài bước thôi, tại đường hầm vận chuyển hàng hóa, những thùng đựng vũ khí đủ để xóa xổ một cao ốc đang băng qua rẹt rẹt như ngỗng ỉa.

    Vậy là Ivan và Leonid, nay tự xưng là John và Leo, trở thành chủ sở hữu của quán bar Jolly Jackal. Hai đứa thấy cũng hay hay, khi một lần nữa góp mặt vào lĩnh vực pha chế nước giải khát. Và quán bar đúng là bình phong lý tưởng cho việc làm ăn thực sự của chúng: Những con người tình cờ đến và đi trong mọi giờ, và chẳng có mống sai nha nào thò mặt đến xách nhiễu, miễn John và Leo còn chung chi đủ cho bọn thanh tra đô thị các loại. Phiền toái duy nhất của việc sở hữu một quán bar, là thi thoảng lại có người ghé vào và thực lòng muốn kêu đồ uống. Song Leo đã khéo léo khống chế điều đó ở mức tối thiếu, bằng sự kết hợp giữa phục vụ tồi và lâu lâu xách chày đập đầu khách quen.

    Miami hóa ra là đất canh tác màu mỡ: Hình như nam phụ lão ấu ở đây ai cũng đều cần thứ gì đó nổ được. Bọn đồ tể của các tập đoàn ma túy, muốn những khẩu súng nã một phút ngàn phát để khỏa lấp trình độ bắn ba trật bốn vuột của mình. Tụi cô hồn các đãng, muốn có súng để hù dọa thường dân; và những thường dân, cố chạy đua vũ trang với cô hồn các đãng. Và những gã thợ săn mà nếu nhìn vào những khẩu súng trường họ mua, sẽ tưởng như họ đang đi săn mấy con nai trong xe bọc thép. Rồi đến các “nhà sưu tập” và các “fan cuồng”, sống trong những căn nhà lưu động ba nghìn đô treo đầy những khẩu súng phóng lựu bảy nghìn đô. Và một sớ dài dằng dặc những nhân vật mờ ám đại diện cho tá lả thiên tinh các phong trào, nào cách mạng, nào phản cách mạng, nào phản-phản cách mạng, nào phản-phản-phản cách mạng rải cùng khắp vùng Car-ri-bê, Trung và Nam Mỹ, tụi này lúc nào cũng đòi mua súng chịu.

    Song khách hàng lớn nhất của bọn chúng, cho tới nay, là một công ty địa phương luôn đặt hàng những vũ khí hạng nặng, đắt đỏ, kiểu vũ khí mà quân đội thật sử dụng trong những cuộc chiến thật. John và Leo không đoán nổi vì lẽ gì lại có người ở Miami cần nhiều hỏa lực tới vậy, mà chúng cũng chẳng quan tâm. Điều quan trọng là, khi chúng thu thập được một vũ khí hạng nặng, công ty này sẽ lập tức mua nó, bằng tiền mặt, khỏi kỳ kèo.

    Người giao tiền mặt chính là gã xách cặp táp vừa bước vào Jolly Jackal, khi Puggy đang theo dõi các cặp vợ chồng kình lộn về chuyện ria mép trên Jerry Springer Show. Leo, đứng bên máy tính tiền, khẽ gật đầu khi gã bước qua. John đứng dậy từ bàn, nhỏ nhẹ chào hỏi ông khách bằng tên.

    “Chào ông Herk,” hắn nói.

    Đó quả thực là Arthur Herk, tên chồng vũ phu, kẻ biển thủ, và chủ sở hữu hợp pháp cái cây của Puggy. Chủ của Arthur, Penultimate, Inc., nhà thầu của những công trình kém chất lượng, chính là khách sộp địa phương của John và Leo. Lí do mà Penultimate sắm sửa vũ khí – thực ra toàn bộ lí do Penultimate tồn tại ngay từ đầu – đó là thôn tính Cuba một khi Fidel đứt bóng. Có cơ man các tổ chức ở Nam Florida, chưa nói tới Cuba, đang mài gươm mài giáo chờ ngày đó. Một điều bạn có thể quả quyết về Cuba thời hậu Castro: quốc gia này không sợ thiếu người lãnh đạo.

    Arthur là người xách giỏ của Penultimate. Phần sự điều hành viên cấp trung của lão đại khái chỉ có thế: đi giao tiền hối lộ và những khoản chi phi pháp khác. Lão đã thi hành nó suôn sẻ cho đến vài tháng trước, khi số nợ bài bạc vượt quá tầm kiểm soát. Một ngày lão ra về giờ làm và thấy hai thằng cô hồn chực sẵn trong bãi đỗ xe. Chúng thông báo nếu nội trong 24 giờ tới lão không xoay đủ số tiền cần thiết, chúng buộc lòng phải cắt một ngón tay của lão mà không dùng đến thuốc gây tê. Hai thằng xốc nách Arthur ra sau ô tô của chúng, mở cốp và bắt lão nhìn vào. Trên sàn cốp xe là một cây kéo chuyên dụng để tỉa cây. Arthur té đái.

    Bí quá làm liều, Arthur xén bớt tiền hối lộ, một khoản vừa đủ để giữ mười ngón tay của lão nguyên vẹn qua hết tuần sau. Lão hi vọng, niềm hi vọng hão huyền của những tay ăn hại, rằng bằng cách nào đó tiền sẽ không bị thâm hụt, mà nếu có họ sẽ nghi cho thằng khác. Cố nhiên tiền phải bị thâm hụt chớ sao không. Cấp trên của Arthur không hé răng với lão nửa lời; họ không muốn lão hết hồn mà chạy đi khóc kể với cảnh sát. Họ để lão tiếp tục đi giao tiền hối lộ, và không kèn không trống rước cặp Henry-Leonard từ New jersey đến xử lí tình hình. Tinh thần là dàn xếp vụ này sao cho nhìn như màn đâm chém của tụi cờ bạc, Penultimate vô can.

    Khi chiếc TV 35 inch của Arthur bị ám sát, lão biết chính mình mới là nạn nhân mục tiêu, và dù kẻ bắn là ai thì nó cũng được thuê bởi, còn ai trồng khoai đất này, Pennultimate. Duy trong đêm đó khi Arthur bước vào tiệm Jolly Jackal, John và Leo chẳng mảy may hay biết chuyện này. Với chúng Arthur là cầu nối với một khách hàng sộp, nên tội gì chúng không xã giao chút đỉnh với lão, dù cũng như bao người có dịp tiếp xúc với Arthur, chúng biết lão là một thằng chó đẻ.

    “Ông anh muốn gì đó thấm giọng chứ?” John hỏi.

    “Vodka,” Arthur nói, lão là người luôn muốn gì đó thấm giọng.

    John nói gì đó bằng tiếng Nga với Leo, kẻ đang chìa ra một ly vodka. Arthur chụp vội như sợ ai giành mất, làm hơi hết sạch, đặt ly xuống rồi nhoài người về phía John. Mắt lão vằn đỏ, giọng lão khàn khàn bắt ghê.

    “Nói trên phôn rồi,” lão bảo, “tao cần một quả tên lửa.”

    “Hiểu,” John nói. “Cái này ông mua cho ông đúng không? Tên lửa dùng riêng?”

    “Mày quan tâm làm cóc khô gì?” Arthur nói.

    Lão có lý. John đâu rảnh. Hắn chỉ tò mò bởi trước giờ chưa thấy Arthur đề cập đến, sức mấy mà đi nhận lãnh bất cứ loại khí giới gì. Lão chỉ làm độc nhất chuyện giao tiền.

    “Bắt buộc phải là tên lửa ư?” John hỏi.

    “Bộ có vấn đề gì sao?” Arthur hỏi.

    “Xui rồi,” John nói, “hiện giờ bọn tôi không có tên lửa. Tên lửa khó kiếm lắm.” Đó là sự thật. Mặt hàng tên lửa rất khan hiếm; không biết giang hồ nào đã vét sạch chúng. Nghe đồn đó là bọn Iraq hoặc bọn Microsoft.

    “Ày,” Arthur nói, “Khó sao tao không cần biết, mau mau quác đít lên, kiếm quỹ khí gì đó cho tao đi.” Arthur giễu giọng John, đọc “v” thành “qu”.

    Nghe câu móc mỉa, John toan gọi thằng Leo hộ tống lão Arthur ra ngoài. Nhưng John là một thương gia, và khách thì cũng có người này người kia.

    “Ông muốn sử dụng vũ khí này thế nào?” hắn hỏi.

    “Đừng van tâm tao sử dụng quỹ khí này thế nào,” Arthur tiếp tục nhây. “Lo mà kiếm quỹ khí gì thật chiến cho tao.”

    Arthur đâu định sử dụng vũ khí như một vũ khí. Lão biết đách gì về vũ khí chứ. Lí do duy nhất lão muốn có hàng nóng là vì sau rất nhiều cân nhắc, kế hoạch mà lão vạch ra để bảo toàn tính mạng là: diện kiến FBI và khai tất tần tật những gì lão biết về Penultimate – các hợp đồng, những khoản đút lót, quán bar Jolly Jackal và bất cứ chuyện trên trời dưới biển nào lão nghĩ ra hay vẽ vời ra được. Với thần trí suy nhược vì alcohol, lão đã nghĩ ra diệu kế để thuyết phục FBI là trình diện với một quả hỏa tiễn Nga chính hiệu.

    “Ông định trả bao nhiêu?” John hỏi.

    Lão ẩy cái cặp trên bàn về phía hắn. “Mười thiên,” lão nói. “Cứ đếm đi.” Arthur đã tự mình kiểm tra số tiền trong va-li từ trước. Vào lúc ấy tổng cộng nó là 15.000$, được sắp thành những cọc 20$, Arthur xén 5000$ làm của riêng – với 500$ nhét bóp và phần còn lại cho vào túi quần. Lão đã được lệnh đi giao 15.000$ này từ hai ngày trước cho một nghị sĩ Hạt Dade. Nghị sĩ này sau đó sẽ bỏ lá phiếu tối hậu để thưởng cho Penultimate một gói thầu xây dựng mười bốn nhà chờ xe buýt, để rồi từng cái một sau đó, với đủ lí do trời ơi đất hỡi, sẽ tốn của bà con đóng thuế Hạt Dade khoản tiền tương đương một cư xá sang trọng hai phòng ngủ ở Key Biscayne.

    John mở cặp, nhìn sơ qua bên trong rồi đậy nắp lại. Hắn nhìn cái cặp và trù tính. Một mặt, áp phe này thối hoắc. Thằng cóc cắn này đâu đáng ngồi chung bàn làm ăn với hắn, mất giá quá. Nhưng tiền mặt là tiền mặt. Và nếu thằng ngu này cóc cần biết nó đang mua gì, John nhìn thấy một phương án để vừa kiếm được một số tiền vừa phải, vừa tháo gỡ được một vấn đề đang làm hắn ưu tư.

    “OK,” hắn nói. “Có lẽ tôi có một thứ cho ông.”

    Hắn dẫn Arthur đi xuôi theo hành lang đến gian phòng ở nhà sau, mở khóa cửa và bước vào. Hắn tiến đến góc phòng, nắm lấy quai của một thứ trông như một chiếc va-li công nghệ cao, to hơn chút đỉnh so với loại có bánh lăn thông thường, và được đúc bằng một thứ kim khí màu xám bạc. Hắn kéo lê nó ra cửa, đặt nằm xuống, mở bốn lớp khóa lớn, đoạn giở nắp lên. Bên trong va-li là một miếng đệm bằng bọt biển; bên trong miếng đệm là một hộp kim loại đen có ghi tiếng nước ngoài, cùng một dãy công tắc điện. Kế bên nó, nối kết với cái hộp bởi những sợi cáp điện là một vật hình ống bằng thép. Nhìn hao hao cái máy xay rác nhà bếp.

    “Cái đồ thiên lôi gì đây?” Arthur ngơ ngác hỏi.

    “Bom đấy,” John đáp.

    “Nhìn khác mẹ gì cái máy xay rác đâu!” Arthur nói.

    “Bom mà,” John nói.

    “Nó hoạt động ra sao?” Arthur hỏi.

    “Như hướng dẫn sử dụng,” John chỉ vào dòng chữ ngoại quốc.

    “Bỡn tao hả mày?” Arthur nói.

    “Đâu có,” John nói.

    “Làm sao tao biết đây là bom?” Arthur lườm hắn. “Làm sao tao biết mình không tốn mười thiên để tha về một cái máy xay rác?”

    “Cứ nhìn đi,” John trả lời tỉnh khô.

    Với sự thôi thúc của căn tính giống đực, Arthur cúi xuống và nhíu mày nghiên cứu thứ trong va-li. Y bong cái kiểu các đấng mày râu nhíu mày nghiên cứu các thiết bị gia dụng, đường ống nước, động cơ ô tô, và các thứ máy móc kia nọ lọ chai mà họ chả biết ất giáp gì. Sau một hồi trầm ngâm nghiên cứu, như thể đã nhìn thấy gì đó giải đáp được mọi thắc mắc nam tính của mình, lão đứng thẳng dậy và nói, “Ngon.”

    John gật đầu kính cẩn. Hắn đóng va-li, khóa lại rồi sai Puggy xách nó ra xe của Arthur.

    John như mở cờ trong bụng. Năm thưở mười thì, hắn và Leo lại tàng trữ ở nhà sau những con hàng cực kì nguy hiểm. Không nhiều thứ trong số đó khiến hắn bận tâm, song thứ này thì khác. Nó là thứ đầu tiên bọn hắn tha về khiến hắn ăn không ngon ngủ không yên. Hắn mừng hết biết khi tống được của nợ đó đi.



    7:45 TỐI, Matt đang xớ rớ bên ngoài quán Gap, thuộc khu mua sắm CocoWalk trung tâm Coconut Grove, chờ Jenny lộ diện để nó có thể hạ sát cô. Andrew, người làm chứng, đang ở bên kia đường chỗ quán Johny Rockets, chờ mua sinh tố. Niềm phấn khích sắp được gặp Jenny khiến nó quên bẵng cái bụng lép kẹp.

    Nhằm tránh những ánh mắt soi mói ở khu mua sắm ngoài trời nhộn nhịp này, Matt để khẩu súng trường Squirtmaster Model 9000 ở nhà và giắt theo cây súng ngắn JetBlast Junior. Dung tích và phạm vi phun nước dĩ nhiên không thể so sánh, nhưng xong việc là tốt rồi. Phiền cái là cứ chốc chốc, Matt lại phải rút hé khẩu súng từ túi quần ra coi nó có bị rỉ nước không, xui sao nhìn như mới tè ra quần là nhục mặt.

    Matt nào biết, nhất cử nhất động của nó đang bị theo sát bởi một gã hói thấp lùn vạm vỡ đang ngồi trên nó một bậc thềm, tại một quán bar ngoài trời có tên Thứ Ba Béo. Một quán chuyên phục vụ các món giải khát có cồn nhão nhoét, xanh xanh đỏ đỏ rót từ mấy bình nhựa trong suốt có dán nhãn sắp hàng hàng, mỗi cái nhãn là mỗi cái tên dở hơi lẩm cẩm, tỉ dụ: You Gotta Colada. Tên gã hói là Jack Pendick - một nhân viên bán hàng ở Sunglass Hut vừa bị đuổi việc ngay chiều hôm đó, sau khi nhiều khách nữ phàn nàn bị một nam nhân viên nhìn chòng chọc vào cổ áo họ, lúc họ đang cúi xuống để xem hàng trưng bày.

    Đằng nào Jack cũng đâu chí thú gì với trò bán buôn manh mún này. Hắn đeo đuổi ước mơ về một sự nghiệp huy hoàng trong ngành hành pháp. Hai lần hắn nộp hồ sơ xin việc tới sở cảnh sát Hạt Metro, hai lần đều bị trả hồ sơ, bởi hạng mục tâm lý trong giấy tờ của hắn ghi rõ: hắn, nói theo lối chân phương, là một thằng đần. Song ý định trở thành dũng sĩ trừ gian chưa lúc nào thôi cháy bỏng trong hắn, và rồi, khi đang rột rột thanh toán chút dư tàn của ly nước thứ ba, một ly cocktail xanh lá óng ánh có tên Melter Thần Lửa, sự chú ý của gã, như một tia la-de – rọi thẳng vào một thanh niên khả nghi bên dưới.

    Jack đã cày nát các chương trình thực tế về cảnh sát trên TV, và hắn tin mình có giác quan thứ sáu khi một tội ác sắp sửa xảy đến. Giác quan đó giờ đang ngứa ran. Thằng mãnh dưới kia nom đáng nghi tợn, và nó cứ thậm thà thậm thụt kiểm tra cái gì đó trong túi quần, một thứ mà Jack, bằng sự tập trung tối đa, đã kết luận đó là – đó, mới nói tức thì! – một khẩu súng.

    Thằng này đang tính chơi lớn. Jack biết điều đó.

    Và Jack lại nghe khúc nhạc ấy âm vang trong tâm trí mình. Khúc tráng ca công lý của hắn; lần đầu hắn nghe nó là ở tập đỉnh nhất của chương trình đỉnh nhất mọi thời đại, Chuyên Án Miami. Lúc này đấy hắn đang nghe rõ mồn một, giọng mũi của Phil Collins:


    Kìa nó đang đến trong bầu trời đêm nay

    Chúa ôi ...


    Và Jack, dõi theo kẻ hung đồ với bàn tay sắp sửa vấy máu kia, cũng thấy nó đang đến – cơ hội của hắn, có thế chứ. Cơ hội để đạp sóng rẽ gió; để chứng minh hắn không phải đồ bỏ đi; để trở thành anh hùng, để cho cả thế giới thấy – nhất là thằng quản lý ở Sunglass thấy – hắn là một đấng đại trượng phu đỉnh thiên lập địa cỡ nào. Tay phải hắn thọc vào túi quần, cảm thấy vững dạ bởi cái độ cứng trơn trơn, lành lạnh của khẩu súng lục hắn tậu vào tuần trước trên show Coconut Grove Súng và Dao. Tay trái hắn ngoắc cô hầu bàn, thêm một Melter Thần Lửa nữa em ơi!



    CÁCH ĐÓ CHÍN khối nhà, Henry và Leonard đang ngồi trong chiếc ô tô thuê, trên đường phố tối hù cách cửa quán Jolly Jackal khoảng cách vài làn xe. Chúng đã theo đuôi Arthur đến tận đây và đang đợi lão chường mặt ra để theo đuôi tiếp. Radio trên xe đang phát bình luận thể thao. Tay dẫn chương trình đang nói liến thoắng.

    Anh em Cá Sấu Mỹ đâu hết rồi ta? Cá Sấu Mỹ mà THẮNG là anh em gọi muốn cháy máy. Bữa nay THUA, anh em lại hỏng có gan.

    “Cá Sấu Mỹ là mốc xì gì vậy?” Leonard hỏi.

    “Banh bầu dục,” Henry đáp. “Bọn đại học ấy mà.”

    “Rảnh!” Leonard bĩu môi, hắn không hình dung được chuyện khơi khơi đi húc nhau cho sứt càng gãy gọng, phải té vàng té bạc gì thì cũng ráng.

    Thằng dẫn chương trình nhận một cú phôn.

    Tôi fan Cá Sấu Mỹ. Và tôi đang gọi đây.

    OK, ông bạn muốn nói gì?

    Thì ông nói tụi này hổng có gan gọi, tôi đang gọi đây nè.

    Rồi, OK, vậy ông bạn muốn nói gì?

    Tôi nói là tôi đang ở đây. Và tôi đang gọi.

    Có vậy thôi hả? Ông gọi chỉ để nói ông đang gọi?

    Thì bởi ông nói tụi này không có gan.

    Chớ hổng phải ha? Nguyên tuần nay ngày nào tôi cũng nghe Cá Sấu Mỹ mấy ông gáy rầm trời đất. Rôi giờ coi, cha nào cha nấy chui vô hang hết.

    Hang nào? Tôi đang gọi đây mà.

    OK, vậy xin mời ông cho biết ý kiến?

    Ờ thì, ông nói bọn tôi không có gan, cho nên ...

    Henry lắc đầu, bấm tắt radio.

    “Đến lạy cái đất nước,” hắn nói.

    “Má đúng thiệt,” Leonard đồng tình.

    Hai thằng ngồi thừ ra đó trong vài phút, đưa mắt nhìn tấm biển nê-ông dặt dẹo, bụi đóng tấc tấc của tửu quán Jolly Jackal. Chữ “ACKAL” bồng lên mông lung giữa bóng tối.

    “Mà thằng đó tới đây chi vậy cà?” Leonard thắc mắc. “Một thằng ngời ngời như nó, nhà cao cửa rộng, công việc ngon lành, đốc chứng gì mà đun đầu vô cái xó chó ỉa này chớ?”

    “Hỏi hay,” Henry nói.

    “Hông ấy mình cứ xách đầu nó ra đây, tìm hiểu cho lẹ?” Leonard sốt sắng ướm hỏi.

    Henry lắc đầu. “Để thủng thẳng đã,” hắn nói. “Tao muốn coi thử nó đang làm gì.”

    “Má oải quá mày ơi,” Leonard thở dài. “Xin mày, cứ cho tao hai phút với nó và cái này” – hắn giựt cái hộp quẹt trong xe ra khỏi lỗ cắm – “tao cuộc nó sẽ khai tới đời ông cố nội nó luôn. Nó sẽ hót in hệt thằng cha gì gì đó, Luciano Calamari.”

    “Pavarotti,” Henry nói.

    “Ba bốn gì kệ mẹ đi. Nó hót xong là mình vô công chuyện, pằng, lên máy bay về Newark. Hết muỗi, hết thằng cha con mẹ nào trên cây, hết Cá Sấu Mỹ, hết ...”

    “Im coi,” Henry nói.

    Leonard dõi theo ánh nhìn của Henry và thấy có hai thằng ngất ngư nào đâu, một thằng đi tập tễnh, đang lò dò bước về phía cửa quán Jolly Jackal. Trong vầng sáng màu đỏ tím hắt ra từ chữ ACKAL trên biển hiệu, Henry và Leonard thấy hai thằng đều trùm kín đầu với một thứ có vẻ như là quần tất của đàn bà. Thằng đi tập tễnh đang cầm súng.

    “Coi bộ tới giờ khuyến mãi,” Leonard nói.



    Andrew đang phù mỏ hút thứ sinh tố chocolate đặc sệt của nó. Nó đã tới đứng chung với Matt chỗ ngoài quán Gap. Từ dàn loa chất lượng kẹo kéo của quán Johnny Rockets bên kia đường, vọng đến giọng ca của Elvis thời trai trẻ:

    Hãnh diện biết bao để nói nàng là cục kẹo bơ của tôi

    Tôi đang yêu ... Tôi đang rung chuyển!

    Andrew tiếc rẻ rời miệng khỏi cái ống hút, nói: “Thử nghĩ xem, mày có hãnh diện để nói ai đó là cục kẹo bơ của mình không?”

    Matt thử nghĩ về chuyện ấy.

    “Kiểu như,” Andrew nói, “mày ra mắt nàng với bà con cô bác, cái mày nói, “Xin giới thiệu với mọi người, CỤC KẸO BƠ của tui!’ Ế, bộ đái trong quần hả cha nội?”

    “Chết cha,” Matt hoảng hồn ngó xuống cái quần kaki của nó, thứ mà như luật bất thành văn đối với tụi con trai mười bảy tuổi, luôn có size vòng eo quá lớn và chỉ che được nửa mông. Coi, khẩu JetBlast Junior rỉ nước thiệt, tạo thành một vũng đen sũng sĩnh ngay háng nó.

    “Hẻo rồi,” Matt ca cẩm.

    “Ê, con Jenny tới kìa,” Andrew la lên.

    Bỏ mịa,” Matt chắt lưỡi, cuống quít kéo cái áo phông trắng của nó xuống để che đi vết ố.

    “Matt có khẩu súng nào trong túi quần không đó?” Jenny tủm tỉm, “hay Matt chỉ muốn gặp Jenny nói chuyện chơi thôi?”

    Andrew cười hô hố, nhổ một miệng lút sinh tố lên vỉa hè. Matt đấm nó một cú trật lất.

    “À phải rồi,” Jenny nói, “tụi mình sẽ làm chuyện này ở đâu? Một nhân chứng thôi mà đúng không? Chỗ này đông quá trời.”

    “Hổng ấy tụi mình đi vô con hẻm kia đi,” Matt chỉ về phía Đại lộ Grand. “Ở sau tiệm chạp phô có một bãi đỗ xe.”

    “Cũng được,” Jenny nói.

    “À Jenny nè,” Matt ấp úng, “Giả tỉ ... ờ, sau khi mình giết Jenny xong rồi ấy, giả tỉ Jenny không bận chuyện gì, ý mình là ...”

    “Ý nó là,” Andrew xọt dưa, cấp kỳ lui lại để né đường quyền thứ hai của Matt, “nó hãnh diện được nói Jenny là cục kẹo bơ của nó.”

    “Matt,” Jenny làm mặt nghiêm, “Jenny hân hạnh được làm cục kẹo bơ của Matt.”

    Eo ơi.

    “OK,” Matt nói với vẻ nghiêm túc không kém. “Nhưng trước tiên, Matt phải giết Jenny đã.”

    Vậy là đám trẻ tíu tít phới về phía tiệm chạp phô. Matt vẫn lày quày đậy điệm vết ố trên quần, lòng lâng lâng một cảm giác vui sướng và tự nhiên đến lạ khi được sóng bước cạnh Jenny. Khi những rộn ràng và rực rỡ của CocoWalk đã nằm lại sau lưng, ba bạn trẻ vô tư đâu để ý gì đến dáng hình cục mịch của Jack Pendick, Dũng Sĩ Trừ Gian, cách bảy thước phía sau đang lạch bạch đuổi theo bọn họ. Một tay hắn sờ vào khẩu súng trong túi áo, giọng mũi the thé của Phil Collins rót đầy thần trí đang sôi sùng sục của hắn, khi hắn đã sẵn sàng để đón nhận bất cứ gì đang đến trong bầu trời đêm nay.
     
  8. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    SÁU




    “Thấy gì qua thứ này chết liền á,” Eddie nói.

    Ráng đi cha, rộn chuyện quá,” Snake nói.

    Cặp tướng cướp đang thập thò trước cửa quán Jolly Jackal, hai cái đầu trùm quần vớ ngoắc qua ngoắc lại. Snake tròng ống quần bên phải lên mặt; cái còn lại treo tòng teng trước ngực. Eddie thì sụp kín mặt với phần thắt lưng của cái quần, chừa lại hai ống vớ rũ rượi phơ phất sau lưng, khiến nó nom như một yêu tinh thỏ khổng lồ.

    “Tao chỉ muốn góp ý thôi,” Eddie nói, “đáng lý phải lấy màu nào sáng hơn chớ.”

    “Có gì xài nấy đi cha nội,” Snake nói.

    Chúng đã xoáy được cặp quần tất này ở một tiệm chạp phô trên Coconut Grove. Rảnh đâu mà kén cá chọn canh, Snake đã thó chúng trong lúc Eddie vờ lên cơn co giật để điệu hổ ly sơn thằng bán hàng. Snake chụp ngay hộp quần tất đầu tiên mà nó thấy. Ngẫu nhiên đó là hàng của Hanes Control Top, màu đen tuyền, với size dành cho các bà mập.

    “Thà đội một cái xô lên đầu còn sướng hơn,” Eddie tiếp tục càm ràm.

    “Tao bảo mày đội gì mày đội đó,” Snake đanh giọng. “Có mang túi theo chưa?”

    “Khỏi lo,” Eddie vỗ vỗ cái túi đựng hàng Winn-Dixie được vo lại giắt ở lưng quần. Kế hoạch là, Snake sẽ dùng súng uy hiếp thằng bán bar, trong khi Eddie trút đầy túi hàng với số bạc lấy từ máy tính tiền, ưu tiên mệnh giá cao trước, mệnh giá nhỏ sau, thư thả thì hốt luôn mớ lẻ tẻ.

    “OK,” Snake nói. “Nhớ nghen mậy, đừng có mà bép xép gì ở trỏng, nhất là bép xép tên tao. Và chớ làm trò gì ạch đụi.”

    “Bày đặt,” Eddie xài xể, “bộ cái ý tưởng này còn chưa đủ ạch đụi chắc?”

    “Để coi ai ạch đụi biết liền,” Snake nói, siết chặt khẩu súng và đẩy tung cánh cửa.



    “À NÀY,” MATT nói, “Jenny có muốn mình bắn vô đâu không?” Nó, Jenny và Andrew vừa bách bộ qua hết con hẻm bắt từ Đại lộ Grand và giờ đã đứng trong bãi đỗ xe nhờ nhờ tối phía sau tiệm chạp phô. Có hơn hai chục chiếc ô tô trong bãi, và tuyệt không thấy ai khác vào thời điểm đó.

    “Thì ngay chỗ đó luôn đi.” Andrew mách nước. “Hai đứa mày sẽ như trời sinh một cặp.”

    “Câm mỏ,” Matt hằm hừ. Quay sang Jenny nó ngỏ ý, “Hay vào tay Jenny nha?”

    “Cũng được,” Jenny nhỏng nhảnh đáp, cô thích chuyện Matt cân nhắc coi nên bắn vô đâu.

    “OK, rồi nha,” Matt nói. “Andrew, chuẩn bị làm chứng nè!”

    “Tuân lệnh!”Andrew nói, rướn người tới trước và chun mặt lại, tỏ ra nghiêm túc tối đa đối với nhiệm vụ.

    Jenny đưa tay phải lên, xòe lòng bàn tay về phía Matt với vẻ cung hiến. Matt như chết lặng trước vẻ yêu kiều của Jenny. Nó đưa khẩu JetBlast Junior lên, hai tay cầm súng duỗi thẳng, như mấy chương trình cảnh sát trên TV. Nó nhắm vào bàn tay Jenny và khởi sự siết cò súng.

    “FREEZE!” Thốt nhiên từ con hẻm vút đến một giọng khàn khàn ghê rợn. Ba đứa quay phắt lại và thấy một hình hợm đang lặc lè tiến về phía chúng. “FREEZE!” hình hợm ấy lại rống lên, dù nãy giờ đã có đứa nào nhúc nhích gì đâu. Và rồi, một tiếng “ĐÙNG” phát xuất từ hình hợm ấy, và chớp mắt Matt đã thấy tấm kính xe bên cạnh mình trổ ra chằng chịt những vết nứt.

    “Quỷ thần ơi, nó b-bắn kìa,” Andrew lắp bắp.

    “Chạy lẹ,” Matt quát lên đoạn tức khắc kéo tay Jenny, ba chân bốn cẳng phi đến phía cuối bãi đỗ xe. “Andrew!” nó ngoái cổ la. “LẸ MÀY!”

    Andrew ba chớp ba nháng đuổi theo Matt và Jenny.

    “FREEZE!” hình thù lại rống lên. Và lại một tiếng ĐÙNG tiếp sau đó.

    Matt vẫn cắm đầu chạy bán sống bán chết, kéo theo Jenny đang vừa chạy vừa lầm rầm “JesusJesusJesusJesus”, cứ mỗi bước là một lần “Jesus”. Lại thêm một tiếng ĐÙNG và tiếp đến là một tiếng UỲNH khi viên đạn bay qua đâu đó gần Andrew, kẻ đang thu mình sau một chiếc ô tô. Matt và Jenny phóng đến cuối bãi đỗ xe, xô đổ mấy thanh chắn, và chợt thấy mình lọt thỏm vào một khoảng sân sau không đèn đóm, đầy rác rến và cỏ dại mọc cao tận thắt lưng. Thế rồi, với những bước loạng choạng mù lòa, hai đứa gieo mình vào trong bóng đêm thăm thẳm.

    Trở lại với bãi đỗ xe, Andrew như hóa đá bởi nỗi khiếp sợ, rúc mình sau chiếc ô tô, dỏng tai nghe tiếng thở phì phò của cái hình hợm đang mỗi lúc một thu hẹp khoảng cách với nó.

    “FREEZE!” hình hợm cất giọng thều thào. “FRUNHHHMPH.”

    Cái hình hợm, vấp phải một rào chắn thấp bằng bê tông, đổ oạch xuống như một bao mỡ bò chín chục kí lô. Khẩu súng lục văng ra trước và tốp lại ngay trước thân mình đang co rúm của Andrew. Andrew, hành động theo bản năng, chộp lấy khẩu súng và bật dậy, chạy trối chết về phía con hẻm dẫn ra Đại Lộ Grand. Để lại sau lưng nó súc thịt bầy hầy, léo nhéo rên rỉ của Jack Pendick, Dũng Sĩ Trừ Gian.



    Lại nói chuyện Snake tung cửa xông vào quán Jolly Jackal, cánh cửa táng thẳng vào Leo, kẻ đang sắp mở nó ra cho Puggy, kẻ đang đứng sau Leo với cái va-li đựng bom. Sau lưng Puggy là Arthur đang mày mò trong túi tìm chìa khóa để mở cốp con Lexus. Sau lưng Arthur là John, đang ôm cái cặp táp.

    Bị cửa đập bất tử, Leo liểng xiểng chúi dụi vào Puggy. Puggy mất thăng bằng, đánh rớt cái va-li xuống ngón chân của Arthur. Arthur ré lên như lợn bị chọc tiết, chúi nhủi vào người John. John loạng choạng vấp lên cái ghế dựa đằng sau, ngã chổng vó xuống sàn nhà, cái cặp văng ra.

    Snake phát hoảng khi thấy cả đống người lăn lóc lố nhố. Nó lập cập giương súng lên, vung vít loạn xạ, quát “Tất cả tụi bay ... úi da.”

    Snake suýt ngã sấp mặt. Ra thằng Eddie vừa xớn xa xớn xác húc vào lưng nó.

    “Bà mẹ mày, coi chừng chớ,” nó nộ.

    “Có thấy chó gì đâu,” Eddie làu bàu.

    Câm mồm,” Snake hầm hừ. Đoạn nó hất hàm về phía Leo, Puggy, John và Arthur, biểu, “Dồn tụi nó lại.”

    Hai thằng dồn đám lau nhau lại một chỗ, trừ John đang nằm xếch một bên, cạnh cái cặp trên sàn nhà.

    Trên màn hình TV, hai mụ nạ dòng vạm vỡ, ria mép tốt tươi đang đập túi bụi một cha nội với mái tóc bóng lộn và hàm răng ngót 40% là hàng giả.

    “OK, việc đầu tiên,” dứt lời Snake xăm xăm tiến lại chỗ Puggy. Puggy hoảng vía lùi ra sau, mắt nhìn sững khẩu súng. Snake vung chân trái, cái chân không bị thương, tung một cước kịch lực vào vùng bẹn của Puggy. Thốn đến mức không ú ớ được tiếng nào, Puggy đổ sụm xuống sàn, hai tay ôm bẹn. Snake bồi thêm một cước ngay mặt nó. Puggy vội đưa tay lên che mặt, cuộn người lại thu lu để né đòn. Snake đá pặc pặc vào lưng nó hai phát nữa, rồi lùi lại.

    “Chưa xong chuyện với mày đâu,” nó gầm gừ, đoạn chĩa súng qua Leo, “Mở cái máy tiền ra. Để tay mày ở chỗ tao thấy được. Xớ rớ tới cái chày là tao nổ phọt óc mày liền.”

    Leo, hai tay giơ ra trước và mắt nhìn chừng khẩu súng, từ từ lùi lại, vòng qua quầy bar đến chỗ máy tính tiền. Một tay giữ nguyên vị trí, một tay hắn hạ xuống bấm vào một phím trên máy. Hộc đựng tiền trượt ra.

    “OK,” Snake huých khủy tay vào Eddie. “Vô lượm lúa đi.”

    Eddie, với hai cánh tay vươn ra trước in hệt Boris Karloff trong Xác Ướp, rề rà lê bước cho tới khi chạm vào quầy bar. Thế rồi, như một ông xẩm mù, nó vừa mò mẫm mặt quầy vừa tiến từng bước một.

    “Coi, khẩn trương lên chớ mày!” Snake ngứa mắt quá, nạt.

    “Lần sau, tao xí phần cầm súng,” Eddie cành hanh, kéo nhô phần thắt lưng của chiếc quần tất lên khỏi mặt để thấy được sàn nhà phía trước. Nó lịch xịch đi vòng qua quầy bar, lại chỗ máy tính tiền rồi ngó vào cái hộc đã mở sẵn.

    “Quỷ tha ma bắt,” nó buột miệng.

    “Ưu tiên mấy tờ lớn,” Snake biểu.

    “Tờ lớn nào?” Eddie nói. “Tờ này? Hay tờ này?”

    “Mày sủa cái đéo gì thế?” Snake cau mày.

    “Tao nói là, trong này có nhõn hai tờ, y bon à.”

    “Phải còn nữa chớ,” Snake nói.

    “Ờ, đúng, còn nữa,” Eddie làu bàu, “Để coi, gom hết đống lẻ này chắc được, ờ, một đô năm mươi.”

    Snake mím môi suy nghĩ.

    “Muốn tao gom hết vô bị không?” Eddie hỏi, giơ cái bị đựng hàng lên.

    Snake chĩa súng vào Leo, gằn giọng hỏi, “Tiền đâu?”

    Leo nhún vai. “Bán ế quá anh.” Hắn đọc thành “vá.”

    “Mày cất tiền ở đâu đó,” Snake trừng mắt. “Muốn bị bắn không?”

    “Không,” Leo đáp.

    “Đem hết tiền ra đây cho tao,” Snake nói, “không tao bắn bể bụng mày liền.”

    Trên màn hình TV, lão tóc-bóng-lộn vừa giật mạnh cái áo ống của một trong mấy bà để ria mép, cặp hàng chà bá lửa nảy ra, dội tưng tưng. Hai đầu ti đã được làm mờ bằng kỹ xảo, thể theo các qui chuẩn về thuần phong mỹ tục trên sóng truyền hình.

    Từ sàn nhà, John lên tiếng, “Tôi có tiền.”

    Snake lừ mắt sang hắn. “Đâu?” Nó hỏi.

    “Cái bóp,” John điềm tĩnh nói. “Trong túi quần tôi. Biếu anh uống nước.”

    Snake chĩa súng thẳng vào đầu John, nói, “Liệu hồn, móc gì bậy bạ ra là chết với tao.”

    John thong thả cho bàn tay phải vào túi quần, lôi ra một bóp vải loại rẻ tiền, rồi lia nó qua sàn nhà cho Snake. Snake nhặt nó lên với bàn tay không cầm súng rồi dùng ngón cái kiểm kê số tiền bên trong. Mà kiểm gì mấy đâu, bởi trong bóp chỉ có một tờ mười đô, một tờ năm đô và ba tờ một đô.

    “Mười tám đô la?” nó chưng hửng. “Quán kiểu gì vậy?”

    “Bán ế lắm,” Leo nói.

    “Mặt bằng xấu quá,” John lý giải.

    “Cần lấy bị đựng mười tám đô không?” Eddie hỏi.

    “Khép cái mỏ mày lại,” Snake nộ, “Không tao bắn mày trước.”

    Snake cố động não. Nó đoán là có ẩn tình gì đây ... bốn thằng khi không chụm rụm trước cửa ... nhất định có chuyện gì nó chưa tỏ tường. Nó quan sát từng thằng một kĩ hơn . Ánh mắt nó dừng lại ở Arthur. Cha, thằng này nai nịt bảnh tỏn gớm, còn se sua đeo đồng hồ vàng nữa chớ.

    “Mày,” Snake nói, ra hiệu cho Arthur bằng khẩu súng. “Đưa tao cái đồng hồ.”

    Arthur quày quả tháo đồng hồ, liệng cho thằng Snake, nó bắt lấy rồi giơ lên trước cái quần tất để nhìn gần hơn. Coi bộ vàng thật. Snake thấy phấn khởi trở lại.

    “Giờ đưa bóp mày đây.”

    Arthur lẳng lặng rút bóp từ túi quần rồi liệng qua cho Snake. Snake lấy ngón cái bạch ra và thấy một xấp toàn tiền hai mươi đô. Đút cái bóp vào túi quần, nó nhìn chằm chằm Arthur. Snake đang xâu chuỗi những dữ kiện lại với nhau ... một thằng ăn diện láng cóng, túi rủng rỉnh bạc, đương không ló mặt ở một cái quán như cứt ... Thôi đúng rồi, nó là dân buôn ma túy chắc. Hổng chừng còn là trùm nữa. Nghĩa là ...

    “Có gì ở trỏng?” nó hỏi Arthur, chỉ vào cái va-li.

    “Một quả bom,” Arthur nói.

    “Ừa, phải rồi,” Snake nói.

    “Thật đó ông!” Arthur hổn hển nói, thời trung học lão từng được mệnh danh là thánh chỉ điểm. “Nó là một quả bom! Tụi này là Nga ngố đó, tụi nó bán bom!”

    Snake liếc nhìn John. John trợn mắt kinh ngạc trước lời cáo buộc lố lăng.

    “Bom,” hắn khịt mũi. “SSììì! Bom đâu ra cha ơi! Là bar mà.”

    “Là bar mà,” Leo đồng tình.

    Snake nhìn cái va-li. Trên TV, Jerry Springer đang huyên thuyên, rằng trong một mối quan hệ, thì một sự nhịn là chín sự lành.

    “Eddie,” Snake nói. “Mở cái va-li ra coi.”

    “Con mẹ mày, Snake,” Eddie sửng cồ, “mày tiết lộ tên tao rồi!”

    “Ày, thì mày cũng vừa tiết lộ tên tao còn gì, coi như huề,” Snake nói.

    “Snake đâu phải tên,” Eddie cãi. “Snake là biệt danh.”

    “Trước khi công kích nhau,” Jerry Springer tiếp tục, “chúng ta nên soi mình trước gương và ...”

    Snake bắn Jerry Springer, khiến lão vỡ tung thành trăm mảnh. Phát súng làm điếng hồn tất thảy mọi người, kể cả Snake; Arthur khóc hu hu. Đó là lần đầu tiên trong đời Snake thử bắn cái gì đó, và mục tiêu của nó nay chỉ còn là một hộp đen lủng lỗ nghi ngút khói. Nó đắc ý quá, vậy ra đây mới đúng là nghề của chàng.

    “Giờ,” Snake bảo Eddie, “mở cái va-li chó đẻ đó ra coi.”

    Miệng lầm bầm, Eddie kéo đũng quần tất xếch lên nửa mặt, rồi lững thững vòng qua quầy bar tới chỗ cái va-li cạnh quầy. Loay hoay một chặp nó mới mở được hết các chốt. Bàn tay đặt trên nắp, nó ngước nhìn Snake.

    “Lỡ bom thiệt sao mày?” nó hỏi.

    “Mở ra,” Snake nói.

    Eddie nín thở, từ từ giở nắp va-li lên và nhìn vào trong.

    “Cái gì vậy?” Snake hỏi.

    “Biết chết liền,” Eddie nói. “Gì đi nữa cũng hỏng phải tiền.”

    Snake xán lại và dòm vào trong va-li. Nó cũng không dám phán đó là thứ gì. Nhìn hao hao cái máy xay rác nhà bếp. Song có điều nó biết chắc, đó là một vật quan trọng. Đại khái vậy. Coi, dám đó là một vỏ bọc để chứa ma túy lắm chớ. Mà cũng có khi là ngọc lục bảo; Snake nghe phong long tụi trùm ma túy luôn sở hữu ngọc lục bảo. Mà dẫu có là gì đi nữa, với Snake đây là cả một cơ hội vàng để thoát khỏi quãng đời làm một thằng cô hồn mạt kiếp. Cơ hội để nắm quyền tự quyết, vượt lên chính mình, tiến lên nấc thang mới, trở thành một thằng cô hồn có số má ai ai cũng vì nể! Biết vậy, nhưng nó phải xử trí vụ này sao đây? Nó biết mình cần phải suy tính cho kĩ, lao tâm khổ tứ chứ chả chơi. Đoạn nó quay súng sang Leo, kẻ đang đứng sau quầy bar.

    “Rót tao một ly coi,” nó nói.

    Leo thư thả rót một ly vodka và đặt lên quầy. Snake đưa ly lên tính nốc cạn, khổ nỗi còn kẹt cái quần tất nên nước nôi không vô miệng bao nhiêu mà chảy xuống áo thì nhiều. Từ sàn nhà, John khụt khịt mũi. Snake quay phắt lại, chĩa súng vào John.

    “Bộ mắc cười lắm hả?” nó quắc mắt hỏi.

    “Đâu có,” John lắc đầu lia.

    “Thôi được rồi,” Snake nói. “Bắt tay vô việc. Mày đi xe tới đúng không?” Nó nhìn Arthur.

    Arthur gật đầu.

    “Để ngoài kia phải không?”

    Arthur gật tiếp.

    “Đưa tao chìa khóa xe.”

    Arthur thảy chùm chìa khóa cho Snake.

    “OK,” Snake nói. “Eddie, giờ mày ...”

    “Đừng có leo lẻo tên tao nữa!” Eddie cự nự.

    “OK, đằng ấy, đậy nắp va-li lại.” Snake nói, “Tụi mình sẽ đi một chuyến. Mày, đi chung luôn.” Nó phẩy phẩy súng trước mặt Arthur.

    “Mấy ông lấy tôi làm gì!” Arthur giãy nảy. “Lấy hai thằng kia kìa! Tụi nó là người Nga! Tụi nó bán tên lửa! Có mười ngàn đô trong cái cặp kia kìa!”

    “Rồi, biết rồi, ” Snake gật đầu chiếu lệ, nghĩ bụng tụi trùm ma túy này xảo ngôn gớm.

    “Không, không!” Arthur nằn nì. “Tui nói thiệt, có mười ngà - “

    “Câm họng, thằng chó,” Snake nạt, “giờ muốn đi hay muốn tao bắn?”

    Arthur câm họng.

    “OK, Ed ... lộn, đằng ấy,” Snake nói. “Mang cái vai-li theo.”

    Eddie nắm quai va-li nhấc lên. Nó chỉ nhúc nhích được một tẹo.

    “Nặng dữ thần,” Eddie le lưỡi.

    “Bộ chuyện gì cũng phải tới tay tao hả?” Snake ca thán. Nó bước lại nắm quai va-li, hừ hự giở lên, sặc, nặng thấy mồ nội. Snake suy tính một hồi, rồi nhớ chực cái đứa đang mang va-li lúc nó tung cửa xông vô tiệm.

    Nó đá nhẹ vào Puggy, kẻ vẫn đang co quắp trên sàn, hi vọng được người đời quên lãng.

    “Dậy xách va-li đi mày,” Snake nói.

    Puggy lồm cồm bò dậy, máu loang từ mũi sang một bên má của nó. Nó nhấc cái va-li lên bằng một tay rồi đứng đực chờ lệnh.

    Snake quay sang Leo. “Mày,” nó nói. “Qua đây ngồi chung với bạn mày đi.”

    Leo bước rón rén qua quầy bar. Canh đúng lúc hắn đi ngang qua, Snake dùng báng súng giộng một cú vào sau ót hắn. Snake đinh ninh thằng khốn nạn dính cú này sẽ sụm bà chè luôn, như trên TV khi lấy súng đập đầu ai đó. Điều xảy ra là, khẩu súng phát nổ, bắn một viên đạn lên lút trần. Leo lảo đảo, tay ôm đầu, kêu “ỐI!”

    Snake ra chiều hỉ hả, cứ như biến cố vừa rồi là chủ đích của nó, “Bài học cho mày đó, xách chày đánh người riết có ngày! Thôi tới ngồi với bạn mày đi.”

    Leo lủi đến ngồi cạnh John trên sàn nhà.

    Snake giở giọng đe dọa, “Tụi mày mà gọi cớm sau khi tao đi, viên đạn tiếp theo sẽ đi qua đầu tụi mày đó.”

    Ta nói lời đe dọa nghe không có miếng lô-gích nào, song John và Leo cũng chẳng muốn bắt bẻ.

    Eddie xích tới và ghé đầu vào Snake để hai thằng có thể kín đáo bàn bạc, quần tất với quần tất. Eddie rù rì, “Ủa mà đi đâu nữa mày?”

    “Tới nhà thằng đó,” Snake thì thào, hất hàm chỉ Arthur.

    Tới nhà nó làm đéo gì chứ?” Eddie gắt khẽ.

    “Nghe tao nè,” Snake nói, “thằng này là trùm ma túy, mình nắm dái nó rồi, trong va-li là thứ gì đó rất xịn sò, cái đó lát nữa tìm hiểu, tao cuộc là nó còn nhiều của nả hơn ở nhà.” Snake rành sáu câu, từ Chuyên Án Miami, bọn trùm ma túy toàn ở mấy biệt thự sang chảnh, với những chỗ cất giấu bí mất các loại ma túy thượng hạng, và tiền mặt các thứ. Và cả những mỹ nhân nữa chớ, những bóng hồng bị mê hoặc bởi các đại ca xã hội đen, ngoài vòng pháp luật, chơi với dao đùa với súng.

    “Snake,” Eddie nói, “mình có bóp của thằng đó, mình có mười tám đô của thằng kia. Thôi dông là đẹp rồi đó.”

    “Không đời nào,” Snake gạt phắt, “Thời của mình tới rồi. Ngu sao bỏ qua. Từ giờ, mày chớ có bàn lùi. ”

    “Ôi trời,” Eddie lắc đầu, khiến hai ống quần phe phẩy theo.

    Snake xoay tay nắm và đẩy cửa ra. Nó xỉa súng vào Puggy và Arthur.

    “Đi,” nó ra lệnh.

    Arthur vẫn ngoan cố, “Nghe nè, ông không cần tôi đâu, hai thằng kia mới đáng tiền, tụi nó là người Nga, tụi nó có mười ngờn ...”

    Arthur nảy lui lại khi thấy thằng Snake sấn tới trước mặt, giơ súng lên hăm.

    “Tao đã bảo câm mồm, thằng chó đẻ,” Snake gầm gừ. Phải thiệt cứng với mấy thằng sếp sòng này; có vậy nó mới biết tôn trọng mình. “Đi mau.”

    Cả bọn lục tục kéo nhau rút khỏi tiệm Jolly Jackal - Arthur đi đầu, tập tễnh bởi ngón chân cái bị va-li bom rớt trúng; kế tiếp là Puggy xách va-li; rồi đến Snake tay lăm lăm súng; chót hàng là Eddie, với hai cái tai thỏ đong đưa nhìn phát rầu.

    Khi cánh cửa khép lại và đám giặc đã sạch bóng, quán bar Jolly Jackal lặng phắc như tờ. Sau cùng thì John, ngồi trên sàn nhà cạnh chiếc cặp đựng mười nghìn đô tiền mặt, chép miệng nói với Leo, “Kakimi chertyami oni viigrali holodnuyu voinu?”

    Dịch thô là: “Thế quái nào mà tụi này lại thắng Chiến Tranh Lạnh vậy?”




    Eliot đang ngồi trên sô pha, xem bản phát lại của Buffy Người Diệt Ma Cà Rồng và xơi Cheez-Its thẳng từ hộp lúc điện thoại reng.

    “A lô?” anh nói.

    “Chào,” giọng Anna lảnh lót, “Tôi Anna nè. Giờ anh có bận gì không?”

    “Thú thực với cô,” Eliot nói, “Tôi đang thực hiện một chiến dịch quảng cáo sáu số cho một khách hàng cực kì quan trọng.”

    “Ôi trời, tôi xin lỗi nghen,” Anna nói, “Vậy thôi ...”

    “Không hẳn,” Eliot nói. “Tôi đang coi chiếu lại Buffy Người Diệt Ma Cà Rồng và xơi Cheez-Its.”

    “À. Tôi đã nghe về đời sống độc thân phong phú của anh.”

    “Chưa hết đâu. Sau Buffy, tôi sẽ đăng nhập vào America Online, coi có nhận được email từ người lạ nào muốn hướng dẫn tôi cách trở nên giàu có, hay gửi ảnh khỏa thân của họ cho tôi không.”

    “À, vậy tôi sẽ không phiền anh ...”

    “Không! Cứ phiền! Cứ phiền!”

    “À, tôi muốn nói, một, cảm ơn anh vì bữa trưa.”

    “Ầy, lúc nào cũng được mà. Mà lúc này luôn càng tốt! Cô có muốn ăn trưa tiếp ngay bây giờ luôn hông?”

    Anna phì cười. “Muốn lắm chứ sao không, nhưng lúc này đây tôi đang cố làm một người mẹ tốt, tôi gọi cho anh cũng vì thế nữa. Tôi đang tìm bé Jenny. Nó với con anh hai đứa hẹn nhau ở CocoWalk vì cái trò Killer trời đất ấy, và nó đã hứa sẽ gọi tôi biết khi nào đến đón, mà tới giờ này vẫn chưa thấy gì. Thế Matt có gọi cho anh không?”

    “Gọi mới lạ. Khi nào cần xe nó mới gọi tôi thôi. Chiều nay nó đã gọi rồi, để đi thủ tiêu Jenny. Mà giờ này” - Eliot liếc đồng hồ - “đáng lý nó phải về rồi chứ ta.”

    “À, vậy cho tôi biết nếu anh liên lạc được với nó nha?”

    “Chắc rồi,” Eliot mừng húm, bởi lại có cớ để ba điều bốn chuyện với người ta.

    “Tôi ghét phải làm một bà mẹ lo bóng lo gió,” Anna nói, “nhưng quả tình tôi thấy hơi lo, hồi này nhiều chuyện chộn rộn quá. Gì chứ khoản gọi điện bé Jenny chu đáo lắm.”

    “Ai dà,” Eliot nói, “thì bổn phận của các bà mẹ là lo bóng gió mà. Nhưng tôi chắc tụi nhỏ không sao đâu. Tụi nó ở CocoWalk chứ gì, thiên hạ đông đen. Dễ gì mà gặp rắc rối.”



    “JESUSJESUSJESUSJESUS ...”

    Jenny hổn hển cầu khấn giữa lúc Matt sờ soạng trong bóng tối mịt mùng, kéo cô ra khỏi đám cỏ dại, xa khỏi nơi phát ra tiếng súng. Hai đứa lúc này đang đứng trên vỉa hè của một đoạn đường hẹp. Matt dừng lại và nhìn ra sau.

    “Ủa thằng Andrew đâu rồi?” nó nói.

    “Chả biết nữa,” Jenny nói. “Lạy Chúa, có khi nào ổng bị bắn rồi không?”

    “Trời đất,” Matt tái mặt. “Hay mình quay lại đó coi thử.”

    “Matt,” Jenny nói, “có một gã ở đó đang bắn loạn! Bằng súng thật! Mình phải gọi cảnh sát thôi.”

    Chợt một chiếc ô tô phóng về phía hai đứa. Matt nhảy xổ xuống đường, vẫy tay loạn xạ.

    “TỐP!” nó hét với người lái xe. “TỐP DÙM!”

    Người lái xe, hành động như đa số bà con Miami khi bắt gặp có kẻ đứng la hét giữa đường: tức khắc ấn còi và nhấn ga. Matt nhảy vọt sang một bên khi chiếc ô tô vọt qua, tiếp vỉa hè bằng cả tứ chi.

    “Cám ơn nghen,” nó hét với theo chiếc ô tô đang xa dần.

    “Matt không sao chứ?” Jenny hỏi.

    “Ừ,” Matt nhổm dậy phủi quần. “Hay thôi cứ lại chỗ xe mình nghen. Mình đỗ nó trên kia, gần quán Đuôi Hổ, rủi trên đường không thấy bót điện thoại nào thì chạy xe đi kiếm cũng dễ.”

    “Ừ, miễn thoát khỏi đây là được,” Jenny nói, ngoái nhìn bãi đỗ xe.

    Hai đứa nửa chạy nửa đi bộ qua ba chòm nhà đến chỗ con Kia, không thấy bót điện thoại nào trên đường đi. Chừng cả hai đã yên vị trong xe, Matt nói, “Jenny có biết đồn cảnh sát nào gần đây không?”

    Jenny ngỏ ý, “Hay đi thẳng về nhà mình luôn được không? Mẹ mình chắc đang nóng ruột lắm, tới đó rồi gọi cảnh sát cũng được mà.” Jenny đang thèm mẹ của cô.

    “OK,” Matt nói. “Và gọi cho mẹ thằng Andrew luôn.” Đoạn nó rồ máy.

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    “Thiệt tình,” Matt tắt nhạc, rồi lẹ làng cho con Kia lăn bánh, trực chỉ nhà Jenny. Hai bạn nhỏ đang run lập cập, nôn nả sớm giao lại trạng huống hãi hùng này cho mấy bạn to đầu, có trách nhiệm lo.



    Trong chiếc xe thuê bên ngoài quán Jolly Jackal, Henry và Leonard đang chờ vụ cướp có vũ trang, vốn chẳng ăn nhậu gì tới chúng, sớm kết thúc để tiếp tục theo đuôi Arthur Herk. Ngồi không cũng buồn, Leonard bèn kể Henry nghe chuyện hài hước về một quý bà được chẩn bệnh bởi một bác sĩ nói giọng Nhật rặt.

    “... bác sĩ nói, “Rady, tôi đã thấy vấn đề.” Cái bả hỏi, ‘Nó là gì thế, bác sĩ?’ Bác sĩ nói, “Bệnh của bà rà bệnh Lỡ Làng.”Cái bả hết hồn, “Trời ơi! Bệnh Lỡ Làng! Có nghiêm trọng không bác sĩ?” Bác sĩ nói, “Nghiêm trọng rắm.” Cái bả hỏi, “Mà nó có nghĩa là gì?” Cái bác sĩ nói, “Nghĩa rà, mặt bà Lỡ Làng như cái đít.”

    Henry thở dài ngao ngán.

    “Hay không?” Leonard vỗ đùi đen đét. “Mặt bà Lỡ Làng như cái đít. Húúú. Thằng nào nghĩ được cũng tài.”

    Henry bật lại radio.

    ... nói đi nói lại, tụi Cá Sấu Mỹ chỉ gáy là giỏi, thua là rúc hết.

    Ê, tôi fan Cá Sấu Mỹ đây, OK? Tôi fan Cá Sấu Mỹ, và tôi đang nói chuyện với ông đây, mà ông lấn cấn cái chuyện gì mới được chớ?

    Tôi lấn cấn là ông không gọi cho đến khi tôi nói không Cá Sấu Mỹ nào dám gọi. Ấy rồi đùng một cái, cả làng cả họ Cá Sấu Mỹ gọi tới tấp bà trời luôn.

    Tôi tính gọi từ trước kia. Thằng này đâu có ngán.

    Nhưng ông KHÔNG gọi. Ông đang gọi, công nhận, nhưng trước khi tôi nói không Cá Sấu Mỹ nào dám gọi, thì không Cá Sấu Mỹ nào gọi, kể cả ông.

    Thì đúng, nhưng tôi đang gọi mà, chứ gì? Ông đang nghe tôi nói, đúng hông? Tôi là fan Cá Sấu Mỹ, và tôi ...

    Henry lại tắt radio.

    “Bọn này cần tìm thú vui khác,” hắn nói.

    “Chúng nên tích cực quay tay hơn,” Leonard tiếp lời. “Đó là nếu còn có thể.”

    “Nghiêm túc đấy,” Henry nói, “Mày nghĩ có đứa nào trong đám vừa rồi biết tên phó tổng thống Hiệp Chủng Quốc Hoa Kì không?”

    “Hah,” Leonard ra vẻ khinh thị, dù thực tình hắn cũng có biết phó tổng thống tên gì đâu. Chỉ biết đó là một khứa bận com lê, nhưng là khứa nào thì chịu thua. Một quãng im lìm trong chiếc xe thuê, sau cùng thì Leonard, người không bao giờ chịu nổi sự im lặng, buột miệng: “Mặt mày Lỡ Làng ...”

    “Im coi,” Henry xua tay.

    Cửa quán Jolly Jackal xịch mở. Arthur xuất đầu lộ diện.

    “Ông bạn mình kìa,” Henry nói. “Ngó bộ đi cà nhắc rồi.”

    Puggy xuất hiện tiếp theo, lặc lè xách va-li.

    “Thằng nào vậy?” Leonard nói.

    “Tao tin rằng đó là Tarzan,” Henry nói, ngồi thẳng dậy.

    “Ai cơ?” Lenoard nói.

    “Thằng hạ cánh xuống tao từ trên cây, ở nhà ông bạn tụi mình,” Henry nói.

    làm đéo gì ở đây kia chứ?” Leonard hỏi. “Mà cái cặp đó đựng gì?”

    “Sớm biết thôi,” Henry nói.

    Snake khập khiễng bước ra với khẩu súng trên tay, theo sau là Eddie.

    “Ý tưởng thiên tài, đội quần vớ lên đầu,” Henry tấm tắc. “Sao tụi nó không mặc cái áo nào in chữ Cướp Có Vũ Trang luôn cho khỏe?”

    Bốn thằng lững thững tiến đến chỗ chiếc Lexus của Arthur. Snake biểu Puggy để cái va-li vào trong cốp xe. Rồi cả bọn lục tục chui vào chiếc Lexus – Arthur cầm lái, Snake ngồi cạnh lão, dưới băng sau là Puggy và Eddie, Puggy được xếp ngồi ngay sau Arthur để Snake có thể dòm chừng nó. Một phút thảo luận, rồi chiếc xe bắt đầu lăn bánh. Năm giây sau, Henry rồ máy chiếc xe thuê và bám theo.

    “Mày nghĩ tụi nó đi đâu?” Leonard hỏi. “Nhà ông bạn mình?”

    “Lỡ Làng,” Henry nói.
     
    Chỉnh sửa cuối: 25/11/21
  9. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    BẢY




    Cảnh sát viên Miami Monica Ramirez, cảm nhận được luồng oán khí tỏa ra từ người cộng sự đang bĩu môi của cô, Walter Kramitz, khi họ đang tảo thanh theo hướng tây Đại Lộ Grand. Walter đã bĩu môi suốt bốn lăm phút vừa qua, từ sau khi hai người kết thúc bữa trưa ở tiệm Burger King trên Đại lộ 27th.

    Sự thể là, Walter rốt cục đã vung cần câu tình ái. Monica biết ông tướng này đã sẵn sàng rồi, bởi hổm rày hắn khoe chuột với tần suất cao hơn hẳn ngày thường. Walter tự hào sở hữu hai bắp tay to vật vã; bí quyết giữ cơ của hắn là ngày nào cũng cử tạ vài trăm cái. Cảnh phục đã là sơ mi ngắn tay rồi, song lúc nào bận Walter cũng xắn lút tay áo lên để phơi bày cái độ phồng nam tính, thành quả luyện công của hắn. Ở Burger King, hắn cho Monica hít no thính khi đưa cả hai tay cầm cái Burger bò nướng cho vào mồm, in hình nó nặng tới hai chục kí lô.

    “Hổng ấy ...” hắn khởi sự, bằng một giọng thản nhiên có tính toán, “tôi đang nghĩ là, tôi với cô, chúng ta nên gặp nhau lúc nào đó?”

    “Walter,” cô nói, “mình gặp nhau miết mà. Mình đang gặp nhau nè.”

    “Cô hiểu ý tôi mà,” hắn nói.

    Dĩ nhiên là cô hiểu. Ý hắn là, mình thử làm tình nghen. Monica đã giác ngộ cách mạng đó là cái ý của tất cả đàn ông khi họ bảo, Chúng ta nên thử gặp nhau. Bài khác của họ là, Ta nên tìm hiểu về nhau nhiều hơn. Cái họ thực tâm muốn tìm hiểu là bạn trông thế nào khi không mặc quần áo, thế thôi. Song họ đâu thể nào cứ thẳng sợi thừng mà nói: Này, mình làm tình nghen.

    “Không,” Monica nói, “tôi không hiểu ý anh. Ý anh là gì?”

    “Ý tôi là, ta cứ ngồi trong xe hoài cũng chán, tôi nghĩ ... ta nên tìm hiểu về nhau nhiều hơn.”

    Monica thở dài. “Walter,” cô nói, “anh muốn làm tình với tôi chứ gì?”

    Walter cứng họng ngay giữa lúc đang nhồm nhoàm cái burger, mắt tròn mắt dẹt ngó Monica. Hắn đang mơ chăng? Monica sẽ để hắn đi qua lối tắt đến thiên đàng ư? Bằng cách nào đó hắn đã tìm được lỗ đen vũ trụ mà người đời đã vô vọng tìm kiếm hằng bao thế kỷ? Cái lỗ đen giúp ta nhảy cóc qua hết những chuyện trò lê thê lẩn thẩn mà phi thẳng lên giường! Hắn căng óc suy nghĩ nên phản ứng ra sao trước câu hỏi của Monica.

    Sau cùng, hắn trả lời, “Đúng vậy.”

    “Ây dà,” Monica nói, “Tôi thì không muốn làm tình với anh.”

    Walter sững sờ nhìn cô. Đây là một cú lừa!

    “Đừng nghĩ tôi ghét gì anh tội nghiệp,” Monica dịu giọng, “Anh là một cộng sự tốt, một cảnh sát mẫn cán. Nhưng anh đã có vợ rồi.”

    “À tưởng gì chuyện đó, tôi và vợ ...

    “Walter, tôi không muốn nghe chuyện giữa anh và vợ anh. Tôi không quan tâm anh và vợ anh có thuận thảo hay không. Tôi không quan tâm cô ấy có thấu hiểu lòng anh không. Tôi không quan tâm anh có đang nghiêm túc cân nhắc chuyện ly thân không. Tôi chỉ quan tâm mỗi một chuyện: anh đã có vợ rồi, nên chuyện yêu đương với anh cho tôi xin kiếu.” Monica mừng vì Walter đã có vợ, nó giúp cô đỡ mất công suy nghĩ những cách khác để cự tuyệt hắn, chẳng hạn như việc hắn có chiều sâu trí tuệ ngang với sốt mayonnaise.

    “Nói không phải để khoe,” Walter nhọng nhịu, “nhưng nhiều phụ nữ khen tôi đẹp trai lắm đó.” Nữa, tưởng chuyện gì chứ chuyện đó đương nhiên. Một sĩ quan như hắn, vai u thịt bắp, đồng phục bó sát, chuột to, đâu khó gì để kiếm vài bóng sắc để tâm sự sau giờ làm; hoặc nếu có một đồng nghiệp biết lắng nghe và thấu hiểu, trong giờ làm.

    “Tôi biết chứ, Walter,” Monica nói. “Anh rất đẹp trai” – dù đầu ông nom như cái đe và ông xức dầu thơm nhiều tới mức đủ làm chim muông giãy chết – “nhưng với việc anh đã có vợ, và chúng ta là cộng sự chuyên nghiệp thì tôi chỉ nghĩ đây là ý tồi, làm vậy mất hay. Nhưng chúng ta vẫn là cộng sự, OK? Chúng ta vẫn có thể là bạn, OK?”

    “OK,” Walter đáp khan, dù với hắn đó khác nào một tin tức thảm họa. Walter đã mài đít suốt hai tháng trời trong con xe nhà nước cạnh người đàn bà này, người trong mắt hắn có một thân hình cực nuột, thân hình mà hắn khao khát được chiêm ngưỡng một cách chân phương nhất, không đồng phục. Khả năng đó, viễn ảnh đó tiếp cho hắn động lực, trao cho hắn một mục tiêu, một lý do để ngóng chờ ngày làm việc. Và giờ nó đã tan thành mây khói. Công nhận, hắn vẫn được ngồi chung xe với cô ta suốt hàng giờ liền, ngày này qua ngày khác. Nhưng để chi? Nói chuyện khơi khơi thôi hả? Tìm hiểu con người cô ta? Trời, phí thì giờ quá.

    Vậy nên đó không phải một chiếc xe cảnh sát hạnh phúc đang tảo thanh theo hướng tây Đại lộ Grand. Monica lẫn Walter không ai mở miệng từ lúc rời Burger King.

    Chính Monica, người cầm lái, trông thấy thằng Andrew ở đằng trước. Nó vừa phi ra khỏi con hẻm bên tiệm chạp phô, tay lăm lăm một khẩu súng lục.

    “Một người đàn ông cầm súng, ở phía anh,” Monica nói và nhấn ga. “Gọi tiếp ứng đi.” Vừa lúc chiếc xe vọt lên, Walter chộp ngay cái micrô radio. Phía trước, Andrew đã vọt ra khỏi con hẻm, băng qua vỉa hè vào trong Đại lộ Grand. Nó quẹo sang trái, đối đầu trực diện với chiếc xe cảnh sát. Monica dậm phanh, gài số về mo, mở cửa và tuột xuống đường cái, cô khom người sau cửa xe và rút khẩu súng lục bán tự động Glock 40 ra khỏi bao da. Walter gọi tiếp ứng xong, cũng từ ghế tuột xuống đường. Cả hai sĩ quan nhô đầu lên từ cửa xe và chĩa súng vào Anrew.

    “Cảnh sát đây! Monica quát. “Dừng lại và bỏ súng xuống lập tức.”

    “FREZZE!” Walter quát.

    Andrew dừng lại, mắt hấp háy trước ánh đèn pha của xe tuần tiễu.

    “FREZZE!” Walter lặp lại.

    “Bỏ súng xuống,” Monica nói.

    “Đâu phải súng tui,” Andrew nói. “Của thằng cha ...”

    “Bỏ súng xuống,” Monica nói.

    Andrew cúi xuống và đặt khẩu súng lên mặt đường. Chừng nó đứng thẳng dậy thì sĩ quan Walter đã lù lù ngay sát nách, kéo quặp hai cánh tay nó ra sau và ấn mặt nó xuống mui xe. Monica thận trọng nhặt khẩu súng lên – loại súng lục ổ quay 38 rẻ tiền; chương trình phim kinh điển đặc biệt đêm thứ Bảy đây mà! Cô cho nó vào trong chiếc xe tuần tiễu, rồi gọi radio thông báo đã khống chế được đối tượng.

    Walter tháo cặp còng số tám giắt ở thắt lưng ra. Hắn giở hai cánh tay thằng Andrew lên cao ngang lưng nó.

    “Oái! Andrew hức lên. “Làm ơn nghe dùm! Tui hỏng phải ...”

    “Câm mồm, thằng yêu,” Walter giở tay Andrew lên cao hơn.

    “Úi!” Andrew lại ré lên. “Làm ơn, tui hỏng phải ...”

    “TAO ĐÃ BẢO CÂM MỒM,” Walter nạt.

    Andrew câm mồm. Nó đang bận quần dài kaki và áo polo đan len. Mũi nó xịt máu, và nhìn là thấy ngay cu cậu đang sợ mất mật. Monica thấy mức độ nguy hiểm của nó cũng ngang với Chú Ếch Kermit.

    “Sĩ quan Kramitz,” cô nói, “Cũng không nhất thiết phải còng tay cậu ấy lúc này đâu, OK?”

    Walter liếc Monica. “Phải còng chớ,” hắn cự. Hắn nôn thử cặp còng này chết được. Ở nhà, cứ canh lúc mụ vợ đi vắng là hắn lại lôi nó ra, diễn tập bằng cách còng cái ghế vào cái bàn ăn, duy hắn vẫn chưa có dịp để thử với người.

    “Để tôi nói chuyện với cậu ấy một phút thôi, OK? Monica nói.

    Walter đã tính cự lại. Hắn thấy bất đồng hẳn với cô trên phương diện nghiệp vụ, khi hi vọng được thấy cô trần truồng giờ đã tiêu tan. Mặt quạu đeo, hắn ậm ừ, “OK.”

    Với Walter đứng sát bên, Monica chỉ bảo Andrew những quyền mà nó có và hỏi nó có hiểu hết không. Andrew gật đầu. Monica hỏi tên nó.

    “Andrew Ryan,” nó nói.

    “OK, Andrew,” Monica nói. “Cậu đang làm gì với khẩu súng vậy?”

    “Tôi nhặt nó ở chỗ kia,” Andrew nói, hất đầu về phía con hẻm. “Có một gã bắn vào bọn tôi, cái hắn làm rơi nó, cái tôi nhặt nó lên rồi bỏ chạy.”

    Walter khịt mũi, chuyện nhảm vậy có chó nó tin.

    “Kẻ nào bắn cậu, Andrew?” Monica hỏi.

    “Không biết. Một cha mập quái đản nào đó, cứ la ông ổng ‘Freeze’ rồi nhắm bọn tôi mà bắn.”

    “Bọn tôi là những ai?”

    “Thằng Matt bạn tôi và nhỏ Jenny.”

    Như có một tia lửa điện đánh xẹt trong trí Monica. Andrew, Matt, và Jenny, sao nghe quen quen ta. Cô không nhớ chắc ở đâu, song nhất định có nghe qua mấy cái tên này rồi.

    “Mà mấy đứa làm gì ở đó?”

    “À Matt định giết Jenny ở đó,” Andrew nói.

    “Nó làm gì cơ?”

    “Bằng súng nước,” Andrew vội đáp. “Chỉ là trò chơi thôi.”

    “Trời đất,” Monica vỗ trán chạch chạch. Andrew, Matt, Jenny, đủ mặt anh hào rồi. “Có phải cậu đang nói về cái trò gì gì ấy, Killer?”

    “Đúng đúng!” Andrew gật đầu lia. “Chính nó! Killer!”

    Monica thở dài, tự hỏi sao bọn chíp hôi này chẳng chịu hài lòng với những thú vui trong sáng lành mạnh như cô hồi trước - uống bia này, sờ mó nhau này, thiếu gì.

    Một xe cảnh sát chi viện đã tới, còi hụ inh ỏi. Monica kéo Walter sang một bên và nói, “Để thằng nhỏ cho các thầy chú kia lo, anh và tôi củ soát phía sau tiệm chạp phô, xem thử có tay súng nào ở đó không.”

    Walter lại khịt mũi, “Cô tin lời thằng yêu đó hả?” hắn hỏi.

    “Thì ngó qua thôi chứ có mất mát gì đâu, OK?” Monica nói.

    “OK,” Walter làu bàu, “rồi cô sẽ chỉ thấy ...”

    “CẢNH SÁT! CẢNH SÁT! GIÚP VỚI!”

    Tiếng la khàn đặc phát ra từ một dáng hình trùng trục. Còn dáng ai nữa ngoài Jack Pendick, Dũng Sĩ Trừ gian, loạng choạng phới ra từ con hẻm. Vừa nhác thấy xe pháo của người nhà nước là hắn ba chân bốn cẳng chạy tới liền.

    “CẢNH SÁT! CẢNH SÁT!” Hắn cứ vừa chạy vừa quang quác như thế, cho đến khi hơi thở nồng nặc mùi rượu rum của hắn phà thẳng vào mặt Monica

    “CẢNH SÁT!”

    “Chính xác,” Monica nói và đẩy nhẹ ngực hắn, khiến thằng cha suýt ngã ngửa. “Chúng tôi là cảnh sát. Còn ông là?”

    “Tụi nó tính bắn con nhỏ!” Pendick nói.

    “Tụi nào?” Monica hỏi.

    “Tụi gian phi!” Pendick giải thích. “Tụi nó kéo con gái người ta vô hẻm vắng, một thằng cầm súng và ... Ế! Nó là một thằng trong bọn!”

    Pendick nheo mắt nhìn Andrew.

    “Thằng đó là tòng phạm!” hắn khẳng định.

    “Đó là súng nước, đồ ngu,” Andrew phản pháo.

    “Bởi vậy mà ông... xin ông cho biết tên?” Monica hỏi.

    “Jack Pendick,” hắn đáp.

    “Vậy là, ông Pendick,” Monica nói, “ông đã thấy những kẻ cầm súng, sau đó thì sao?”

    “Tôi bám theo chúng liền,” Pendick đáp với vẻ hãnh diện. “Nói chớ tôi cũng sắp vào làm bên công lực.”

    “Mừng cho ông,” Monica gật gù. “Ông có mang theo súng không?”

    “Có một khẩu,” Pendick nói. “Công việc của tôi cần đến nó.”

    “Công việc gì vậy ông?” Monica hỏi.

    “Kính râm,” Pendick nói.

    “Kính râm?” Monica nhíu mày.

    “Tôi mới bị cho thôi việc,” Pendick giải thích.

    “Hiểu rồi,” Monica day day thái dương. “Rồi súng ông đâu?”

    “À tôi làm mất nó ở chỗ kia,” Pendick hất đầu về phía con hẻm, nỗ lực đó khiến hắn suýt té gãy cổ.

    Monica lấy khẩu 38 ra khỏi xe, chìa cho hắn xem thử.

    “Đây có phải súng của ông?” cô hỏi.

    Pendick nheo mắt nhìn.

    “Đúng nó rồi!” hắn reo lên. “Cho tôi lấy lại nghen? Cần nó cho công việc của mình.”

    “Tạm thời chưa được,” Monica nói. “Vậy là, ông bám theo các đối tượng vào hẻm, sau đó thì sao?”

    “Nó định bắn con nhỏ!” Pendick nói. “Thằng gian phi! Nó chĩa súng vào con nhỏ!”

    Súng nước,” Andrew chỉnh lại.

    “Cái tôi la lên, “ĐỨNG IM!” Pendick nói.

    “Sau đó thì sao?” Monica hỏi tới.

    “Sau đó ...” Pendick ấm ớ. Lần đầu tiên, sâu trong bộ não tí hi đầm alcohol của mình, hắn nhận thức được đáng ra phải suy nghĩ kỹ trước khi nói gì.

    “Sau đó thì sao?” Monica giục.

    “Ờ ... Tôi không nhớ,” Pendick giả lả.

    “Ông không nhớ ư?” Monica chất vấn.

    “Không,” Pendick nói, lắc đầu như điên. “Không không không không.”

    Hơn chục du khách, bị mê hoặc bởi ánh đèn nhấp nháy của xe cảnh sát, nô nức đổ xô từ CocoWalk đến để hóng biến. Coi không đâu đủ, phải chụp hình, quay phim. Nào cảnh sát hình sự, nào tội phạm, nào súng ống – Miami danh bất hư truyền đây chứ đâu! Phen này về khỏi lo bị chê kể chuyện thiếu muối.

    Xuất hiện một Búp Bê Barbie Sống với đôi chân dài miên man, diện quần soóc ôm cũn cỡn và chiếc áo dây chịu phép hoàn toàn trước bộ ngực núi lửa 94% silicon. Nàng đon đả tiến lại chỗ Walter, ríu rít hỏi: “Thầy cảnh sát ơi, có vụ án gì vậy ạ?”

    “À, một vụ nổ súng nhỏ,” Thầy Walter bình thản đáp, in hình một người đã vào sinh ra tử nhiều lắm rồi. “Nhưng chúng tôi đã kiểm soát được tình hình.”

    “Đó có phải kẻ nổ súng không thầy?” Búp Bê Barbie Sống thỏ thẻ hỏi, chỉ vào Pendick.

    “Cái đó thì chúng tôi đang xác minh, làm rõ.” Walter đáp, đoạn khởi sự rặn cho bắp tay phồng to hết mức có thể, cố không để phát ra tiếng hừ hự. Búp Bê Barbie trao cho chàng cái nhìn chan chứa ngưỡng mộ và biết ơn đối với công việc của người chiến sĩ nhân dân. Nàng ưỡn cặp bong bóng song sinh về phía chàng sĩ quan. Tình yêu lấp đầy không gian.

    “Sĩ quan Kramitz,” Monica nói.

    “Gì vậy?” Walter tiếc rẻ rời mắt khỏi BBBS.

    “Nhờ anh trông chừng khu vực này nghen, tôi vào con hẻm kia coi qua chút.” Monica nói.

    “Yên chí đi,” Walter đáp, lại đưa mắt sang cặp bong bóng.

    Monica cùng hai sĩ quan khác rà soát con hẻm, và dành mười phút để ngó nghiêng bãi đỗ xe. Họ tìm thấy một ô tô với kính chắn gió rạn nứt, trên đó là một lỗ thủng với kích cỡ một viên đạn; rồi đến một ô tô khác với một thứ trông như lỗ đạn trong tấm bọc cửa. Không thấy bóng người nào.

    Vào lúc họ trở ra Đại lộ Grand, đám đông du khách đã lên đến gần trăm mạng. Xuất hiện các tín đồ Hare Krishna đánh trống ì xèo và nhảy tưng tưng để truyền tải những thông điệp tâm linh. BBBS vẫn đang quấn quít bên sĩ quan Walter, người có khuôn mặt đỏ như quả cà chua bởi gồng suốt nãy giờ chưa nghỉ. Thêm vài chiếc xe cảnh sát góp mặt ở hiện trường. Trong số ấy có thám tử cảnh sát Harvey Baker, người đã được Monica tóm lược sự vụ.

    “Vậy là,” Baker nói, “như cô nói, lần thứ hai, ba cô cậu này nghịch súng nước, và lần thứ hai, một tay súng thật sự xuất hiện?”

    “Nhìn sơ qua là vậy. Ngoại trừ việc tay súng thứ hai này” – cô chỉ Pendick – “biểu hắn bắn xuống đất dám cũng còn trật.”

    “Thì cứ cho là vậy đi,” Baker nói, “vẫn trùng hợp quá đáng, cô không nghĩ vậy sao? Một tay súng thật xuất hiện, trong cả hai lần?”

    “Thì đây là Miami mà,” Monica nhắc.

    “Ừ cũng có lý,” Baker gật gù. “OK, giờ thế này. Tôi sẽ đưa anh này - chỉ Pendick - “và cậu này” - chỉ Andrew - tới sở cảnh sát thành phố làm rõ ngọn ngành sự việc.”

    “Cho tôi gọi mẹ mình được không ạ?” Andrew líu ríu.

    “Được chứ,” Baker đáp.

    “Tôi muốn gọi cho người đó,” Pendick lên tiếng, nhớ mài mại gã luật sư hắn đã thấy trên quảng cáo TV đài địa phương, cái gã đứng bên một kệ sách luật và nhắn nhủ: vấp ngã ở đâu, đòi bồi thường ở đó.

    “Người nào?” Baker hỏi.

    “Tôi không nhớ,” Pendick nói.

    “Dĩ nhiên, anh có thể gọi cho người đó,” Baker nói.

    “Tốt,” Pendick nói, “bởi tôi có các quyền của mình chớ bộ.”

    “Dĩ nhiên là anh có,” Baker tán thành. Quay sang Andrew ông nói, “Tôi muốn nói chuyện với cả hai người bạn của cậu. Cậu có đoán được họ đang ở đâu không?”

    “Tụi nó bỏ chạy lúc hắn bắt đầu bắn,” Andrew nói.

    “Đoán được họ đi đâu không?”

    Andrew nghĩ ngợi một chặp. “Tôi đoán hai đứa sẽ lên xe của Matt rồi chạy về... hoặc căn hộ của ba nó hoặc nhà nhỏ Jenny.”

    “Nhà Jenny,” Monica lên tiếng. “Là cái nơi có kẻ bắn bể TV, đúng không? Và cậu nấp ở sân sau, với Matt?”

    “Dạ đúng,” Andrew nói. “Í lộn, dạ không.”

    “Người bạn tưởng tượng đây mà,” Monica gật gù, đoạn quay sang Thám Tử Baker cô nói, “Hay để tôi ghé qua nhà Jenny, xem thử mấy cô cậu có ở đó không nghen?”

    “Được vậy tốt quá,” Baker nói.

    Monica đưa mắt sang Walter, kẻ vẫn đang khóa chặt hai nhãn cầu của mình vào BBBS.

    “Sĩ quan Kramitz,” cô gọi, “chúng ta đi được chưa?”

    “OK,” Walter đáp rồi quay sang BBBS, “Bọn anh phải đi xử lí vài chuyện. Gặp em lát nữa nghen.” Walter đã điều tra được BBBS đang ngụ tại khách sạn Doubletree, phòng 312, chung phòng với hai con bạn gái nhưng tụi nó không phải vấn đề, bởi nàng và hắn đã hứa hẹn sẽ quẩy xuyên đêm tại một club ở South Beach có tên Cực Khoái.

    “Bảo trọng,” BBBS thỏ thẻ, ấp bàn tay nàng lên cánh tay Walter.

    “Yên tâm đi,” dứt lời hắn sửa thế gồng để con chuột từ trước chạy ọt ra sau. “Bọn anh là dân chuyên nghiệp mà.” Dứt lời hắn quay phắt lại, sải những bước thật chuyên nghiệp đến bên chiếc xe tuần tiễu. Chừng đến chỗ Monica, hắn bỏ nhỏ, “Để tôi lái nghe?”

    Monica tròn mắt, đoạn đưa chìa khóa xe cho hắn rồi leo vào ghế khách. Walter để BBBS chiêm ngưỡng lần cuối những bắp tay của mình xong điệu đà phóng người vào ghế tài, rồ máy, đạp lút ga khiến con xe gầm lên hung hãn. Hắn bật còi báo động và, sau một thao tác khiến các bánh xe ré lên lãng xẹt, cho con xe gầm gừ phi xuống Đại lộ Grand.

    Sau một phút, Monica mở miệng, “Walter, tắt cái còi chết tiệt đó đi.”

    Sau khi liếc gương chiếu hậu để chắc ăn BBBS đã khuất khỏi tầm nhìn, Walter tắt còi báo động. “Mà này,” hắn hỏi, “chúng ta đang đi đâu vậy?”

    “Ngôi nhà trên đường Garbanzo tối hôm nọ, chỗ có thằng nhỏ bắn súng nước, và thằng nào bắn TV ấy.”

    “Trời, ưng cái gì mà tới đó nữa?”

    “Thì coi thử tụi nhỏ có đó không, Matt và Jenny ấy mà,” Monica nói. “Ông thám tử muốn nói chuyện với tụi nó.”

    “Gì, tự nhiên mình thành xe buýt trường học hồi nào vậy?” Walter cau có. “Trời đất ơi.”

    Walter chỉ biết kêu trời, bị lôi khơi khơi khỏi một hiện trường tội ác, với sự hiện diện của một mỹ nhân bốc lửa để chạy đi làm mấy chuyện ba lăng nhăng. Walter đâu làm cảnh sát để đi chăn tụi con nít đít xanh nghịch súng nước! Walter muốn hành động kìa.



    MATT NHẬP MÃ số Jenny đọc cho, và cánh cổng điện án ngữ trước lối vào nhà – mới được sửa sau khi bị cảnh sát phá – từ từ mở ra. Matt tấp vào lối đi rồi lẹ làng chui ra khỏi xe cùng Jenny, hai đứa thoăn thoắt rảo bước về phía cửa trước của ngôi nhà. Jenny giữ bình tĩnh khá tốt suốt dọc đường, giờ đang run lập cập, ba trật ba vụt xỏ chìa khóa. Sau cùng cánh cửa cũng được mở ra và cô chạy ngay vào tiền sảnh.

    “Mẹ ơi!” cô gọi lớn. “Mẹ đâu rồi?”

    “Jenny hả con?” Tiếng Anna vọng ra từ phòng khách. “Con không sao chứ, bé cưng?”

    “Mẹ!” Jenny vụt chạy đến bên Anna, ôm chầm lấy nàng và òa khóc. “Có thằng bắn tụi con mẹ ơi! Nó bắn, bắn!”

    “Ai cơ?” Anna quàng tay quanh người Jenny, líu ríu hỏi. “Ai bắn con vậy, bé cưng? Ở đâu kia?”

    Mải nức nở trên vai Anna, Jenny sức mấy còn tâm trí để trả lời. Rồi Matt bước vào phòng khách. “Đã xảy ra chuyện gì?” Anna hỏi nó. “Chuyện gì đã xảy ra?”

    “Thì tụi con ở chỗ quán Grove?” Matt ấp úng. “Chơi trò Killer? Và con sắp bắn Jenny? Rồi có thằng bắn tụi con.”

    “Bằng súng nước hay sao?” Anna hỏi.

    “Dạ không,” Matt nói. “Súng thiệt. Có đạn.”

    “Lạy Chúa!” Anna rùng mình. “Mà đứa nào?”

    “Tụi con chịu,” Matt gãi đầu. “Nó kiểu, kiểu như ... một thằng điên.”

    “Chúa ơi!” Anna bàng hoàng, ôm Jenny chặt hơn.

    “Rồi tụi con bỏ chạy, kẹt là giờ không biết thằng Andrew đang ở đâu,” Matt nói. “Hai đứa tính về đây rồi mới gọi cảnh sát.”

    “Ừ, đúng rồi,” Anna nói, cố trấn tĩnh. “Gọi cảnh sát đi.”

    “Con gọi ba trước được không cô?” Matt hỏi.

    “Ừ được,” Anna gật đầu, “gọi cho ba đi, nói ba biết con đang ở đây, rồi gọi cảnh sát sau.”

    “Mẹ ơi,” Jenny sụt sịt, “Con sợ quá trời.”

    “Mọi chuyện ổn rồi, bé cưng à,” Anna âu yếm vuốt ve mái tóc con gái. “Ổn rồi. Con về nhà rồi. Ở đây con được an toàn.”



    NGOÀI ĐƯỜNG PHỐ, trên ghế trước của con Lexus, Snake ngó kĩ bóp của Arthur Herk để đảm bảo địa chỉ trên bằng lái xe - 238 Garbanzo - chính là ngôi nhà mà Herk đã lái đến.

    Gật đầu hài lòng, nó bảo, “OK, mở cổng đi.”

    Herk bấm mã số và cánh cổng trượt mở. Snake hỏi, “Tụi này sẽ được ai đón tiếp đây đại ca?”

    “Làm gì có ai,” Arthur nói. “Chỉ có con vợ tôi, và con gái nó thôi.”

    “Hết rồi hả? Toàn đàn bà con gái thôi hả?” Snake gặng hỏi, nó biết tụi trùm thường hay cho thủ hạ túc trực tại nhà.

    “Thì có sao tôi nói vậy mà,” Arthur nói.

    “Biết điều đừng có mà trở quả,” Snake hằm hè, “vô trỏng rồi là khẩu súng này với cái đầu mày không rời nhau đâu. Thằng nào xớn xác, tao cho óc não mày tung tóe lên tường như mì spaghetti liền.”

    “Nghe này,” Arthur khẩn khoản, “bắn tôi đâu có té vàng té bạc gì. Mọi thứ ông muốn đều là của ông, OK? Ông muốn lấy gì cũng được.”

    Snake suy nghĩ về chuyện đó.

    “Vợ mày,” nó hỏi, “nhìn nó mướt mát không?”

    Arthur quay phắt lại, nhìn thẳng vào mắt Snake.

    “Mướt lắm,” lão nói. “Mà con gái nó cũng thế.”



    Buffy thận trọng di chuyển xuyên qua bóng tối và đường hầm nhớp nhúa, tay lăm lăm cái cọc gỗ, biết rằng nàng phải diệt bằng được cái sinh vật gớm guốc này trước khi nó tiêu diệt nàng. Sinh vật đó đang ở rất gần, nàng cảm nhận được nó.

    Eliot cũng cảm nhận được nó. Vào cao trào kịch tính, anh đã phải hoãn lại công chuyện nhai Cheez-It. Mẩu bánh vuông vắn ươn ướt bất động trên đầu lưỡi anh với một cảm giác lờm lợm.

    Buffy nhác thấy một khe hở phía trước theo hướng tay mặt của nàng, một cái hang thấp và tối om bên trong bức tường. Nàng dừng lại trước cửa hang, cố nhìn vào bên trong, mắt nàng không thể xuyên thấu bóng tối trập trùng, song nàng biết nó đang ở đây. Và nàng biết mình phải vào trong đó. Rạp mình xuống, cọc gỗ đưa ra phía trước, nàng khởi sự trườn vào bóng tối, bất thình lình ...

    RENNGG!

    Eliot giật bắn người, khiến viên Cheez-It nẩy xóc ra khỏi mồm, rơi xuống cái quần soóc.

    “Thiệt tình,” anh lầm bầm đoạn với lấy chiếc phôn. “A lô?”

    “Ba hả, có thằng bắn tụi con, giờ tụi con phải gọi cảnh sát,” Matt xổ một tràng.

    “Matt hả?” Eliot nói. “Con có sao không?”

    “Không sao, nhưng tụi con phải gọi cảnh sát.”

    “Con đang ở đâu?”

    “Nhà Jenny. Chiếc Kia đang ở đây.”

    “Khoan, có thằng bắn con ư? Bằng súng nước hay sao?”

    “Không! Súng thiệt đó!”

    “Mà thằng nào?”

    “Thằng trời đất nào đâu không biết. Rồi thằng Andrew chạy đâu mất tiêu không biết luôn, thôi nhen, con phải gọi cảnh sát.”

    “OK, gọi cảnh sát đi, ba đi taxi tới liền.”

    Eliot gác máy, lật đật chụp cái bóp, xỏ vội đôi dép tông rồi phóng như bay ra cửa, không phí chút thì giờ nào để tắt TV.

    Con Quái lao ra từ bóng tối và đẩy Buffy ngã nhào xuống mặt đất. Cọc gỗ văng khỏi bàn tay, rơi ra ngoài tầm với của nàng. Con Quái hiện đứng sừng sững ngay bên trên nàng, mồm ngoác rộng, những chiếc nanh của nó xoắn lại trong một cái cười kinh dị cổ quái. Buffy đang lâm nguy!



    Matt gác máy, nhìn sang má con Anna và Jenny đang thu lu trên trường kỷ. Anna choàng tay quanh Jenny, cô vẫn đang sụt sùi, nhưng đã bình tĩnh hơn.

    “Ba con đang tới,” Matt nói. “Giờ con gọi cảnh sát nghen cô.”

    Anna gật đầu. Matt bốc máy lên để phôn 911. Vừa bấm 9 thì bỗng nghe cánh cửa trước bật tung, giộng vào tường đánh rầm một cái. Tiếng động bất tử khiến Jenny hốt hoảng hét lên. Matt gác máy, lom dom bước ra xem ai vừa vào nhà.
     
  10. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    TÁM




    Tại Jolly Jackal, Leo đang lúi húi dọn dẹp đống tàn tích của đèn hình TV, trong khi John cân nhắc điện cho người của Penultimate để báo chuyện vừa xảy ra với Arthur Herk. Vừa lúc hắn quyết định thây kệ chúng nó – hơi đâu lo chuyện bao đồng – thì cửa quán lại xịch mở. Hai gã vận com-lê, một cao một thấp, lững thững bước vào. Gã cao xòe ví ra, cho thấy chiếc phù hiệu bên trong.

    “FBI,” y dõng dạc. “Tôi là đặc vụ Pat Greer, còn đây là đặc vụ Alan Seitz.”

    John đưa mắt nhìn Leo. Cả hai đang có cùng ý nghĩ: với cái điệu mà đêm nay diễn ra, chúng chẳng thà trở lại Grzkjistan, nhậu dung môi từ mấy thùng hóa chất.

    John nói với Đặc vụ Greer, “Tôi giúp gì được FBI?”

    “Anh có thể cho FBI biết cái va-li ở đâu,” Greer nói, ngừng một nhịp rồi tiếp, “Ivan.”

    John nhìn y chằm chặp. “Tôi tên John mà,” hắn nói.

    “Ấy đương nhiên,” Greer nói. “Anh là John, một thương nhân nhập cư chăm chỉ, sống và làm việc theo pháp luật, điều hành cái quán bar cùi hủi chẳng có lấy mống khách này.”

    “Đúng vậy,” John nói.

    “Chứ gì nữa,” Greer cười xòa. “Vậy hẳn anh không phiền nếu bọn tôi nhìn sơ qua căn phòng ở nhà sau đâu nhỉ? Căn phòng với lu bù ổ khóa ấy?”

    “Ông có giấy phép không?” John hỏi.

    Greer liếc Seitz, rồi khẽ lắc đầu. “Cảm động thiệt,” y nói, “Chuyện một thằng nhập cư khi đặt chân lên đất nước này chẳng có gì ngoài mảnh áo lấm lưng, và có lẽ mấy trăm ngàn đô ít ỏi nó kiếm được nhờ buôn lậu vũ khí quân đội. Ấy thế mà mới ở Mỹ ít lâu thôi, nó đã tài khôn tài khéo tới mức chất vấn tụi mình chuyện giấy phép luôn kìa. Sao hả, thấy ấm lòng không Đặc vụ Seitz?”

    “Cháy lòng luôn ấy chứ,” Đặc vụ Seitz nói. “Lòng tôi đang cháy phừng phừng đây.”

    Ivan cau mày nhìn Leo. Leo nhún vai, ra bộ cũng chịu thua tụi văn hay chữ tốt này.

    Greer lại quay sang John. “Nghe đây, Ivan,” y nghiêm giọng. “Một, bọn tao đã nắm mày rồi. Mày không cẩn trọng chuyện làm ăn với ai, bạ đâu xâu đó. Bọn tao đã nắm mày sát đến mức, nếu bọn tao muốn, thì ngày mày rời khỏi nhà tù liên bang chắc Key West cũng có sông băng luôn rồi, hiểu chửa? Đó là một. Hai, bọn tao cóc cần giấy phép. Bọn tao thi hành dựa trên ... bọn mình thi hành dựa trên cái gì nhỉ, Đặc vụ Seitz?”

    “Lệnh Hành Pháp Đặc Biệt 768 gạch ngang 4,” Seitz nói.

    “Trúng phóc,” Greer nói, “Lệnh Hành Pháp Đặc Biệt 768 gạch ngang 4. Nói đơn giản là vầy, nếu đó là chuyện liên quan đến an ninh quốc gia, mà vụ này thì liên quan quá đi chứ, bọn tao được quyền củ soát bất cứ nơi nào nếu muốn, khỏi giấy phép. Bọn tao có thể điều động cả một đội lục soát và xịt một con Doberman đớp đít mày nếu muốn, Ivan à.”

    John liếc nhanh Leo, rồi quay sang Greer, hắn nói, “Tôi muốn có luật sư.”

    “Nghe gì không, Đặc vụ Seitz?” Greer cười khẩy. “Nó muốn có luật sư! Đúng quyền của nó còn gì, hiến pháp của ta đó! Cái mà ta hết lòng sùng kính đó!”

    “Muốn tôi cho nó một phát vô trán không?” Đặc vụ Seitz nói, rút khẩu súng lục từ bao da trên vai ra.

    “Để thủng thẳng đã,” Greer đáp rồi nhìn sang John, “Bạn tao muốn bắn vô trán mày, điều mà tao dám chắc hắn có thể làm một cách hợp pháp, dưới Lệnh Hành Pháp Đặc Biệt 768 gạch ngang 4. Còn tao, tao cho rằng sẽ tốt hơn cho tất cả các bên liên quan, nếu mày làm siêng lấy chìa khóa ra, rồi dẫn tao đi tham quan căn phòng phía sau, OK?”

    John đứng tần ngần một đỗi, sau cùng cho tay vào túi quần.

    “Từ từ thôi bạn,” Seitz nói, chưa vội chĩa súng vào John, chỉ khẽ hếch đầu súng.

    Rất từ tốn, John lấy ra một xâu chìa khóa.

    “Hết xẩy!” Greer nói. “Thế mới là tinh thần của Lệnh Hành Pháp Đặc Biệt 768 gạch ngang 4! Nào, giờ hai đứa mình cùng vào xem có gì ở sau đó. Đặc vụ Seitz sẽ túc trực ngoài này sẵn sàng hỗ trợ Leonid, trường hợp khách vô đông quá, chạy bàn không kịp!”

    Greer và John xuôi theo hành lang dẫn xuống căn phòng nhà sau. Seitz bước đến quầy bar, vắt một chân lên ghế đẩu và hất hàm chỉ về phía cái TV vỡ toác.

    “Có chuyện gì vậy?” y hỏi Leo.

    “Jerry Springer,” Leo nói.

    “Biết cũng có ngày mà.” Seitz thở dài.



    “MÀY TÍNH SAO?” Leonard nói. “Mình vô bằng ngõ trước luôn chớ?”

    Hắn và Henry đã theo đuôi con Lexus của Arthur Herk đến số 238 đường Garbanzo, nhìn nó lăn bánh qua cổng. Chúng tấp xe ở một đoạn lề đường chỉ vừa quá khỏi cánh cổng.

    “Không,” Henry nói. “Tao nghĩ nên vòng qua sân sau lần nữa.”

    “Với mấy con muỗi mắc dịch đó?” Leonard ca thán. “Chi khổ vậy trời? Cứ đi thẳng vô trong, mần thịt thằng đó, bùm, lên máy bay về Newark. Sướng ích gì mà đi dây vô mấy thằng đội quần xì đó?”

    “Tao muốn biết tụi nó đang làm giống gì,”Henry nói. “Có gì trong cái va-li đó. Và để đảm bảo không có động bất tử, kiểu như thằng nào núp trên cây.” Hắn vào số và cho chiếc xe vòng sang bên kia tư gia.

    Leonard thở dài. “Làm ơn bắn ai đó lẹ dùm,” hắn càu nhàu, “làng xàng riết là lụt nghề đó mày.”



    NGƯỜI ĐẦU TIÊN Matt thấy khi ra đến tiền sảnh là Arthur Herk, lù lù trên ngưỡng cửa. Matt toan mở miệng “chào bác” nhưng á khẩu bởi sắc diện Arthur nom phát khiếp, ngay cả với Arthur.

    “Ai vậy Matt?” Tiếng Anna cất ra từ phòng khách.

    Matt định trả lời, nhưng lại á khẩu tiếp, bởi nó vừa nhác thấy sau lưng Arthur, một gã thấp lùn vạm vỡ đang khệ nệ xách một cái va-li. Đằng sau gã là ... quỷ thần ơi ...

    Ai vậy?” giọng Anna lại vọng ra, róng riết hơn.

    Matt thoái lui về góc phòng, với Arthur và Puggy lết thết theo sau. Vừa trông thấy họ, Anna buột miệng thốt lên “Arthur! Ai ...” Chợt nàng nín thở, còn Jenny vọt miệng la hoảng, khi cái dung mạo méo mò trùm quần vớ của thằng Snake hiện ra.

    “CÂM HỌNG, không tao bắn bỏ hết,” Snake vừa hăm vừa chĩa súng vào Anna và Jenny. Hai má con nín bặt, kinh hãi nhìn khẩu súng. Snake khoái chí tử. Nó chết mê chết mệt cảm giác cầm một khẩu súng, in hệt một cây đũa phép vậy, cứ vẩy nó vào ai là họ sẽ nghe lời ta răm rắp.

    Nó đưa mắt đong hai người phụ nữ trên sô pha, ra đây là bọn mái của tên trùm. Nó nhớ đã gặp qua cái con già hơn, đâu đó ở Grove ... Đúng rồi, chính nó, quày quạy bước qua mình như sợ dặm phải cứt. Đêm nay gió đổi chiều rồi nghe cưng.

    Snake xáp lại chỗ Anna và Jenny; những người đang rụt mình lại trên sô pha.

    “Duyệt hàng cái coi,” Snake chắt lưỡi. “Chậc. Mấy gái này nhìn ngon mắt quá đi chớ. Mướt thiệt.” Nó hí hửng nhìn sang Arthur. “Ông anh uy tín ghê.”

    Anna quắc mắt nhìn Arthur. Lão vội ngó lảng sang chỗ khác.

    Snake nói với Anna, “Đêm nay tụi mình sẽ vui vẻ nghen cưng.” Với bàn tay không cầm súng, nó mày mò xuống đũng quần và mân mê hạ bộ.

    “Mày mà rờ tới con gái tao,” Anna gắt lên, “Thề có Chúa, tao cắt dái mày liền.”

    “Con gái cưng hở?” Snake chép miệng, săm soi Jenny trong lúc bàn tay vẫn chà chà giữa hai bắp đùi. “Gái chưa cắt chỉ đúng không? Bám mẹ lắm chứ gì?” Nó chĩa súng thẳng mặt Anna, và nhìn vào mắt nàng nó biết, bạo mồm bạo miệng vậy thôi chứ nàng đã bị nó thao túng rồi. Chừng nào còn nắm cây đũa phép này, nó hãy còn thao túng tất cả.

    “Tao thích rờ cái gì tao rờ,” dứt lời nó đưa bàn tay vừa mân mê hạ bộ về phía Jenny. Jenny khóc thét, co rúm mình như một con thú nhỏ tuyệt vọng.

    Matt quát lên, “Bỏ súng xuống, không tôi bắn à!”

    Vẫn chĩa súng vào Anna, Snake ngóc đầu qua và thấy một thằng ranh đang chĩa súng vào mình. Hẳn nhiên đó là khẩu súng nước JetBlast Junior, song Snake lại tưởng là hàng thật.

    “Đừng có làm bậy, thằng yêu,” nó quắc mắt.

    “Tôi nói là làm đó,” Matt gằng giọng.

    “Mày bắn tao,” Snake nói, “tao bắn con bồ mày.” Snake hích nòng súng qua Jenny. Đời nào nó chịu buông cây đũa phép của mình.

    Trạng huống ấy được giữ nguyên trong năm giây, Matt chĩa súng vào Snake, Snake chĩa súng vào Jenny, không ai biết phải làm gì tiếp theo. Sự bí bách bị phá vỡ bởi một tiếng động như có gì đó đổ ngoài tiền sảnh. Ra là thằng Eddie, mù căm bởi cái quần tất, đã vấp nhào lên giá cắm dù. Tiếng động làm tất cả giật mình, Matt không ngoại lệ, nó vô thức siết cò khẩu JetBlast Junior, xịt một tia nước lên người Snake.

    “Hờ ...” Matt thất sắc.

    Chỉ với hai bước, Snake đã áp sát Matt, giộng mạnh báng súng vào đầu địch thủ trẻ hơn.

    “Unnnhh,” Matt liểng xiệng rồi ngã phịch xuống sàn, hai tay ôm đầu. Snake quì xuống, dí báng súng vào tai Matt.

    “Thằng ranh chó đẻ,” nó phồng mang trợn mắt. “Trước khi giết mày, tao sẽ cho mày no mắt với cảnh tao làm với con bồ mày, nghe không? Nghe không hả?” Nó ấn mạnh báng súng vào tai Matt.

    “Có,” Matt quằn quại thốt lên. “Oái! Có.”

    “Ráng mà nghe đi, thằng yêu,” Snake nói. “Eddie! Vô đây coi!”

    “Đệt, Snake,” Eddie càu nhàu từ tiền sảnh, “sao cứ léo nhéo tên tao hoài vậy!”

    “Khỏi lo chuyện đó nữa,” Snake nói. “Vô đây và bỏ luôn thứ đó khỏi mặt mày đi.”

    “Nhưng tụi nó sẽ thấy mình,” Eddie nói, lịch xịch bước vào phòng khách.

    “Không quan trọng nữa,” Snake nói, giật phăng cái quần tất ra khỏi đầu. Nó đang suy nghĩ như một vì vua; nó đã có một kế hoạch.

    Eddie tháo quần tất, phủi mấy sợi lông tóc nhờn nhờn dính vào mắt và nhìn thoáng qua cảnh tượng phòng khách. Trên sô pha là hai người phụ nữ, một người trong đó đã bị nó xin đểu vài hôm trước ở Grove, người kia còn trẻ măng, cả hai đều xa tầm với của Eddie hàng năm ánh sáng. Thu lu trong góc nhà là hai thằng chúng đã lôi đầu về từ quán bar, thằng trùm và thằng lùn khỏe như trâu đã lãnh mấy cú đá của Snake. Trên sàn nhà là một thằng nhóc nào đó, tay đang bưng mặt.

    Eddie xán lại Snake, thủ thỉ, “Snake, mày làm cái đéo gì vậy?”

    “Điều chúng ta làm là,” Snake thì thầm đáp lại, “ta trói tụi chó đẻ này lại,” – nó chỉ Arthur, Puggy và Matt, “sau đó hưởng thụ chút đỉnh” – nó chỉ Anna và Jenny, “rồi tìm hiểu về thứ trong va-li và chỗ thằng trùm cất tiền, rồi dọn dẹp sạch sẽ, rồi sau đó dông đến Bahamas và ngồi chơi xơi nước đến hết đời.”

    “Bahamas?” Eddie trố mắt. “Snake, mình có biết đách gì Bahamas đâu.”

    “Cái đó tìm hiểu sau,” Snake nói. Nó nghe đồn Bahamas rất bao dung với dân buôn ma túy.

    “Mà ‘dọn dẹp sạch sẽ’ là ý gì?” Eddie hỏi.

    “Là cái gì không cần nữa thì bỏ,” Snake nói. “Giờ đi kiếm dây thừng đi.”


    ĐẶC VỤ GREER nốt gót John, trở ra từ căn phòng nhà sau của quán Jolly Jackal. Y lắc đầu.

    “Nó không có ở đó,” y nói với Đặc vụ Seitz. “Tụi này có đủ hỏa lực để chiến tranh trường kì với Bắc Triều Tiên, nhưng không có cái va-li. Ivan nói ông ấy chẳng biết tôi đang nói đến cái va-li nào cả.”

    “Thật vậy sao, Ivan?” Seitz hỏi.

    John gật đầu.

    “Phải mày đang nghĩ ... có thể dùng cái va-li như kiểu, gì ta, một quân bài để mặc cả?” Seitz nói. “Kiểu như, bọn tao thèm muốn nó tới nỗi phải tính chuyện thương thuyết với mày, chẳng hạn mày nói bọn tao biết nó ở đâu, và bọn tao sẽ giơ cao đánh khẽ chứ gì? Bất quá gửi trả tụi mày về Nga thôi? Mày đang nghĩ vậy đúng không?”

    John nín thinh. Hắn đang nghĩ vậy thật.

    “Hmmm,” Seitz nhíu mày. “Anh nghĩ sao, Đặc vụ Greer?”

    “Hmmm,” Greer nhíu mày. “Anh nghĩ sao, Đặc vụ Seitz?”

    “Tôi nghĩ là,” Seitz khựng lại một nhịp, rồi nói tiếp, “miễn đi.” Thế rồi, vẫn ngồi im trên ghế quầy bar, y nổ một phát súng vào bàn chân John. Y vốn là một tay thiện xạ.

    John lăn lê bò toài trên sàn nhà, rên la thảm thiết. Tay hắn bưng lấy chiếc giày, máu đang phọt như vòi từ cả hai lỗ thủng trên và dưới.

    “Ế, sao mít ướt quá vậy Ivan,” Greer nhìn xuống. “Mới bàn chân chớ mấy.”

    “Ở Bureau bọn tao gọi đó là ‘phát đường biên,’ Seitz cắt nghĩa. “Nhìn chung, nạn nhân vẫn sống. Họ không có tiên lượng tốt lắm với cái bọn tao gọi là ‘xuyên tâm tiễn.’”

    Greer, cúi xuống cái thân thể đang quằn quại trên sàn nhà, nói, “Mày nghĩ sao, Ivan? Muốn trải nghiệm ‘xuyên tâm tiễn’ không?”

    John, nghiến răng kèn kẹt và nói, “tôi sẽ nói ai giữ cái va-li đó.”

    Greer nhìn Seitz, “Cưng ghê cái Lệnh Hành Pháp Đặc Biệt 768 gạch ngang 4.”



    ROGER CÚI NGƯỜI trên sân hiên, mũi nó cách Cóc Thù Địch độ năm tấc. Con cóc đang xễm xệ trên cái tô của Roger, thủng thỉnh đánh chén khẩu phần của chú chó, trong khi Roger gầm gừ uy hiếp tinh thần địch thủ. Tình trạng này đã diễn ra hơn hai giờ đồng hồ, duy Roger chưa thấy chán. Gầm gừ con cóc là hoạt động quan trọng trong ngày của nó.

    Roger chợt ngóc đầu lên khi nghe tiếng xoẹt xoẹt như có gì đó chà xát vào bức tường cuối sân vườn. Tiếng động tố cáo có kẻ đột nhập, và với Roger, nó chỉ có duy nhất một ý nghĩa: thức ăn có thể đến! Ngay tức khắc, nó bỏ lại con cóc và phi vù qua bụi rậm, như một viên đạn lông lá háu đói.



    EDDIE KHÔNG TÌM thấy sợi dây thừng nào, nên theo khuyến nghị của Snake, nó đi xà quần quanh phòng khách, phòng ăn, phòng gia đình và phòng bếp đặng rứt bằng hết các đoạn dây điện thoại, thứ mà Snake bất quá phải nghĩ đến. Nó na đống dây lùng nhùng vào phòng khách nơi Snake vẫn giữ nguyên hiện trạng: Anna và Jenny bó gối trên sô pha, Puggy và Arthur ngồi xếp re trên sàn nhà, bên cạnh Matt. Mặt Matt đỏ dừ và máu loang từ hai lỗ mũi nó, in hệt lần sau cùng nó viếng thăm gia đình Herk và bị Anna nện nhừ tử.

    “OK,” Snake nói, hất hàm về phía ba gã mày râu trên sàn nhà. “Trói chúng lại.”

    Eddie bước đến sau lưng Matt.

    “Mày muốn tao thắt kiểu gì?” nó hỏi Snake.

    “Còn bày đặt kiểu cọ gì nữa?” Snake nói. “Cứ trói con mẹ tụi nó lại.”

    “OK,” Eddie nói, “có điều tao hổng phải Hướng Đạo Sinh đâu đó. Tao biết mỗi kiểu nút vuông với kiểu ... à, ghế kép. Mày muốn kiểu nào?”

    “KIỂU TRÓI CHÚNG LẠI CHO TAO!” Snake nạt. Nó đã quyết định, một khi gầy dựng xong cơ đồ như một trùm ma túy ở Bahamas, nhất định nó sẽ thâu nạp một thuộc hạ đẳng cấp hơn.



    LEONARD, GIỜ MỚI thấm thía hệ quả của suất đúp spaghetti và xúc xích, rên hừ hự khi nhấc thân mình qua khỏi bức tường sân sau nhà Herk. Hắn đáp uỵch xuống đất bên cạnh Henry, kẻ đang nhìn chòng chọc lên cây chi sung.

    “Tìm Tarzan hả?” Leonard hỏi. “Nó đang trong nhà mà?”

    “Có khi súng tao ở trên ấy cũng nên,” Henry nói. “Có cái gì giống như một tấm phản gỗ, chắc nó nhảy xuống từ đó.”

    Leonard ngước lên cây và nói, “Mà nó ở trển làm đéo – OOOM!

    Roger vừa trao cho Leonard màn đón tiếp theo đúng nghi thức truyền thống: sục đầu nó vào háng Leonard khiến hắn ngã chổng vó.

    Buông tao ra, đồ khốn nạn!” Leonard chí chóe, luống cuống không biết đối phó sao với con Roger. Nó đã phát hiện chút nước sốt marninara còn vương trên cằm Leonard và đang hau háu liếm sạch trước khi kẻ địch tìm thấy. “Henry, kéo nó ra dùm tao!”

    Henry túm vòng cổ của Roger và kéo phăng nó khỏi người Leonard. Cố nhiên nhiêu đó đâu ép phê gì với Roger, một chú khuyển lực sĩ với bộ não tương đương một viên chocolate Raisinet. Roger còn thấy vui nữa là đằng khác: Còn một con người nữa ở đây! Hên hên lại có lộc ăn!

    Xuống mau coi, mẹ kiếp,” Henry nạt, cố hất con chó ra, thấy bắn cũng tội mà nhây quá đừng trách tao ác. Thình lình Roger ngóc đầu lên. Nó đã phát hiện ra gì đó mà Henry và Leonard không thể nghe thấy từ khoảng cách này: tiếng chuông của máy nội đàm! Roger biết âm thanh này; nó báo hiệu có người đến. Và có người nghĩa là có thể có đồ ăn. Thế rồi, cũng đột ngột như khi đến, Roger lao như chớp về phía ngôi nhà.

    Henry nói, “tao lên cây kiểm tra nghen.”

    Xãi lai dưới mặt đất, Leonard ca cẩm, “Còn tao sẽ không đời nào rời New Jersey nữa.”



    EDDIE, SAU MỘT hồi lày quày mướt mồ hôi với sợi dây điện thoại, cũng cho ra được một nút thắt trên hai cổ tay chụm lại của Matt – nó nghĩ đó là nút vuông, nhưng thực ra đó là nút bà ngoại. Đúng lúc đó máy nội đàm trong tiền sảnh reo vang.

    Mọi ánh mắt hướng về phía Snake. Máy nội đàm lại reo, lần này kéo dài hơn.

    “OK,” Snake túm cánh tay Anna và kéo nàng dậy một cách thô bạo. “Ra coi đứa nào ngoài đó, kêu nó đi đi. Xổ bóng gió gì ra là tao xổ đạn liền đó.” Nó lò dò theo chân Anna một đoạn vào tiền sảnh, lựa một chỗ đứng để quan sát được cả nàng lẫn phòng khách. Máy nội đàm lại reo. Anna nhấn vào nút đàm thoại.

    “Ai đấy ạ?” nàng hỏi.

    “Cảnh sát Miami đây,” một giọng đàn ông trả lời.

    Đệt,” Snake gắt khẽ.

    Giọng ồm ồm trên máy tiếp tục, “Đây là Sĩ quan Kramitz và Sĩ quan Ramirez. Chúng tôi có thể vào nhà được không, thưa bà?”

    Anna đưa mắt qua Snake, kẻ đang chĩa súng vào nàng. “Hỏi coi tụi nó muốn gì,” nó thì thào.

    “Có chuyện gì ư?”Anna nói.

    “Chúng tôi muốn nói chuyện với Jenny Herk,” giọng nói đáp lại.

    Snake nhắc tuồng, “Nói nó đi vắng rồi.”

    “Con bé chưa về,” Anna nói.

    Một khoảng lặng, rồi giọng ồm ồm tiếp tục, “À, vậy chúng tôi có thể vào nhà nói chuyện với bà một phút được không, thưa bà?”

    Anna lại nhìn Snake, nó lầm bầm “Chó má,” rồi tiếp “OK, mở cổng, cho tụi nó tới cửa trước.”

    “Tôi sẽ ra mở cổng,” Anna nói và bấm mã số.



    “NGHE NHƯ CÓ ai đó đang sai khiến bà ấy,” Walter nói lúc cánh cổng trượt ra.

    “Ừ, tôi cũng thấy vậy,” Monica nói. “Tôi nghi đó là gã chồng.”

    “Thằng cha thiên lôi đó hả?” Walter nói.

    “Còn ai nữa,” Monica nói, “chắc Jenny đã kể họ nghe chuyện ở tiệm chạp phô, họ nói con bé không có nhà để tránh lôi thôi.”

    “Bọn họ không muốn liên can,” Walter kết luận.

    “Chắc vậy,” Monica nói.

    “Hừm,” Walter nói, dừng xe trên đường vào ga-ra, “bọn họ phải liên can thôi.”

    Hắn chui ra khỏi xe cùng Monica, hai người rảo bước đến cửa trước. Walter gõ cửa và nói, “Cảnh sát đây.”

    Cánh cửa hé ra chỉ vừa đủ để thấy khuôn mặt Anna.

    “Vâng, sĩ quan,” nàng nói. “Tôi giúp được gì chăng?”

    Quai hàm nàng đanh lại; đôi đồng tử như giãn ra hết cỡ. Ạch đụi cỡ Walter cũng thấy được rõ ràng có chuyện gì không ổn. Hắn và Monica đoán thằng chồng đáng ghét đã lệnh cho nàng phải nói gì, và hắn đang canh chừng từng lời nàng nói.

    “Bà Herk này,” Monica lên tiếng, “chúng tôi muốn nói chuyện với Jenny về ... một chuyện đã xảy ra ở Grove. Chúng tôi nghĩ cô ấy và cậu bạn Matt là nhân chứng. Con gái bà không gặp phiền phức gì đâu, chúng tôi nói chuyện với cô ấy cho xong thủ tục thôi mà.”

    “Tôi nói rồi. Jenny nó chưa có về,” Anna lí nhí.

    “Bà Herk,” Monica nói, “Bà có phiền nếu chúng tôi vào nhà, chỉ một phút thôi không?”

    “Tôi ... tôi ... Không,” Anna ấp úng. “À có, tôi có phiền. Làm ơn đừng vào.”

    “Bà Herk, có chuyện gì rồi đúng không?” Monica hỏi tới.

    “Không,” Anna lắc đầu, gương mặt méo xệch vì căng thẳng. “Không.”

    Monica và Walter đưa mắt nhìn nhau. Họ đều hiểu, không có giấy phép, họ không thể xông đại vô nhà người ta.

    “OK, thôi thế này, bà Herk,” Monica nói. “Tôi sẽ đưa bà một danh thiếp, và khi Jenny về nhà, tôi sẽ rất cảm kích nếu bà gọi cho tôi, OK?”

    “Vâng,” Anna nói, cầm tờ danh thiếp với bàn tay run lẩy bẩy. Monica đọc được gì đó trong mắt nàng và, trước khi cho bản thân mình một cơ hội để quay đầu, cô tì vai vào cánh cửa, huých tung nó và dấn bước vào nhà.



    “ANH TÀI ƠI, đi nhanh lên chút được không?” Eliot giục gã tài taxi. Gã tài ngước nhìn cái kính hậu trong xe và săm soi gương mặt Eliot một chặp, hành động này tuy vậy không mang đến quá nhiều hiểm họa, bởi hắn chỉ đang chạy có 12km/h. Eliot biết qua kinh nghiệm, rằng trái ngược với những đô thị khác nơi các bác tài luôn là những người chạy máu nhất, ở Miami họ lại di chuyển với vận tốc của gia súc đau bại. Eliot nghi thằng này chắc mới chơi đồ xong.

    “Chuyện gì mà vội vậy ông?” gã tài hỏi, vẫn nhìn Eliot qua gương hậu.

    “Chuyện khẩn cấp đó cha,” Eliot nói.

    “Hờ,” gã tài ừ hử, chẳng buồn tăng tốc. Sự thực hắn còn chạy chậm hơn, bởi còn mải suy nghĩ về chuyện đó.

    Sau vài giây, hắn lên tiếng, “Caramba là đường nào nhỉ?”

    “Caramba gì cha,” Eliot nói. “Nó là đường Garbanzo. Garbanzo.

    Thông tin mới này khiến gã tài càng giảm tốc độ.

    “Tôi tưởng ông nói Đường Caramba,” hắn vặn lại.

    “Làm gì có!” Eliot nói, bắt đầu mất bình tĩnh, “Garbanzo.”

    Gã tài lại nhíu mày đăm chiêu. Hiện họ đang di chuyển với vận tốc còn thua Eliot đi bộ.

    “Thú thực với ông,” hắn nói, “ chạy nào giờ tôi chưa từng nghe đến đường Caramba.”

    “Này anh,” Eliot cựa mình trên ghế, “anh làm ơn ...”

    “Không phải tôi nói không có đường Caramba,” hắn lắc đầu. “Tôi chỉ nói chưa nghe qua cái tên ấy.”

    “Làm ơn đi, đưa tôi đến đường Garbanzo nhanh nhất có thể được không?” Eliot khẩn khoản.

    “Có chuyện gì vội vậy ông?” gã tài lại thắc mắc.

    “CHUYỆN KHẨN CON MẸ NÓ CẤP!” Eliot quát.

    “OK, OK, OK,” gã tài đáp lia, đoạn thả hai bàn tay khỏi vô lăng rồi ngửa ra trước người, tỏ ý: ssííí, hỏi tí mà làm thấy ghê. “Ông đâu cần phải nạt nộ chớ.”



    CÚ HUÝCH CỬA của Monica khiến Anna nẩy ra sau một bước. Monica cấp kì vượt lên, không chắc mình đang trông đợi điều gì. Bất giác cô khựng người lại.

    Phía sau cô hai bước là Walter, sửng sốt trước hành động tự tiện xông vào nhà dân của Monica, lắp bắp “Trời đất, Monica, cô làm cái ...” Đến lượt hắn ngây ra như tượng khi trông thấy cảnh tượng trước mắt Monica: cách Anna vài bước là thằng Snake, đang chĩa súng vào họ từ ngưỡng cửa phòng khách. Walter xác định đó là một khẩu 45.

    “Tao giết hai đứa bay,” Snake nồ. “Thử nói trời nói đất gì coi, tao cho phăng teo hai đứa bay liền.”

    Monica mấp máy, “Chúng tôi không ...”

    “Câm miệng!” Snake nói. “Câm miệng và giơ tay lên. Eddie! Mày ra đây.”

    Eddie vòng qua góc phòng, thấy lù lù hai sĩ quan cảnh sát đang đưa tay lên trời.

    “Trời đất quỷ thần ơi, Snake,” nó thảng thốt.

    “Nín mẹ mày đi,” Snake nói. “Cứ làm như tao nói. Ra đóng cửa lại rồi lấy hết súng của tụi nó đem qua đây.”

    Eddie quày quả bước ra khép cửa đoạn tiến lại Monica, rón rén mở bao da nơi thắt lưng cô và rút khẩu Glock 40 ra. Coi vậy mà nặng gớm. Kế đến nó tước súng của Walter. Sẵn hai tay đang đưa lên, Walter gồng một phát và ném cho Eddie một cái nhìn đằng đằng sát khí, mất công vô ích bởi Eddie đâu có nhìn đến hắn.

    Eddie xách hai khẩu Glock như đang xách hai con chồn dại, lép bép bước đến bàn giao cho Snake. Snake cho mỗi khẩu vào mỗi túi quần, cảm giác mình như độc cô cầu bại, khi giờ nó đang có tận ba cây đũa phép. Việc bọn cớm xuất hiện quả là ngoài định liệu, nhưng nó đã giải quyết gọn tơn, chứ gì nữa? Nó đã có một kế hoạch mới, và nó có dự cảm tốt lành về kế hoạch đó, vạch ra từng nước cờ mà nó sẽ đi.

    Snake ngoắc Anna và hai sĩ quan vào phòng khách. “Tất cả vô đây,” nó ra lệnh.

    “Ông đang phạm sai lầm đấy,” Monica nói.

    “Chỉ sai lầm nếu mày không chịu khép mỏ lại thôi, con cớm,” Snake nói. “Cớm cái cũng đổ máu như cớm đực thôi.” Nó khoái lối diễn đạt đó. Nghe như giọng điệu trùm ma túy thứ gộc.

    Đợi cho phòng khách đông đủ các mặt, Snake lên tiếng, “Con cớm, đi lấy cặp còng của thằng lực sĩ kia rồi còng nó vô ... cái thứ đằng kia.”

    Nó chỉ vào một cái kệ audio, dọc hai mét rưỡi ngang hai mét rưỡi, làm bằng những ống thép. Trong các ngăn của nó là một dàn âm li, vài lọ hoa trang trí và một bức ảnh lộng khung của Anna và Jenny.

    Monica gỡ cặp còng trên thắt lưng của Walter ra, tròng một đầu vào cổ tay Walter, đầu còn lại vào một ống thép nằm dọc của kệ audio.

    “Làm cho chặt vô nghen,” Snake nói.

    Monica, nhìn Walter như muốn nói xin lỗi nghen, so chiếc còng khít rịt vào cổ tay hắn.

    “Giờ liệng chìa khóa cho tao,” Snake nói.

    Monica liệng xâu chìa khóa của Walter cho Snake.

    “Giờ, con cớm,” Snake nói, “lấy cặp còng của mày rồi còng thằng chó này” – nó chỉ Arthur – “vô đầu kia của cái kệ đó, làm cho gọn và khít vào.” Snake xác định tên trùm ma túy và tên cớm lực sĩ là những mối nguy lớn nhất trong phòng; còn lại chỉ là mấy thằng cắc ké và đàn bà con gái.

    Monica còng tay Arthur vào đầu kia của kệ audio.

    “Đưa chìa khóa qua đây,” Snake nói. Nó khoái sai bảo con mụ cớm quá.

    Monica quăng chùm chìa khóa qua.

    “Giờ,” Snake nói, chĩa súng vào thẳng mặt Monica, “cởi áo ra, cho tao coi vú cái.”

    Monica đưa mắt nhìn khẩu súng.

    “Rốp rẻng lên,” Snake chắt lưỡi. “Ngó bộ cưng có cặp ức ngon lành đó.”

    Monica rời mắt khỏi khẩu súng và trừng trừng nhìn Snake.

    “Mẹ kiếp mày,” cô nói.

    Thằng Snake ngó cô dưới nòng súng hồi lâu. Sau cùng nó chép miệng, “Thôi để lát nữa.” Đoạn nó biểu Eddie, “Trói thằng yêu này lại” – nó chỉ Matt, “xong rồi trói con cảnh sát với con mẹ này luôn,” – nó chỉ Anna.

    “Còn hai đứa kia?” Eddie hất hàm chỉ Puggy và Jenny.

    “Tao có kế hoạch cho tụi nó,” Snake liếc Jenny.

    Eddie quơ mớ dây điện thoại và lụi hụi bắt tay vào việc. Nó muốn một số gợi ý về cách thắt nút, nhưng lại nghĩ đây không phải lúc thích hợp để hỏi, chuyện thằng Snake giờ đã có đến ba khẩu súng và đã trở nên, như Eddie thấy, hoàn toàn điên loạn. Nó đành lầm lũi mần mò trong khả năng tốt nhất có thể, gói cổ tay các tù nhân vào trong một nùi dây nhợ hầm bà lằng.

    Đợi Eddie xong việc, Snake đến nghiệm thu mấy cái cổ tay. Các nút buộc xấu mù, nhưng đủ chắc. Gật đầu hài lòng, nó xán lại Arthur rồi hất hàm hỏi, “Tiền để đâu đại ca?”

    “Ủa tiền gì?” Arthur ngơ ngác.

    Snake thúc mạnh đầu gối của bên chân lành vào hạ bộ Arthur. Lão rống lên ồng ộc và gục xuống sàn, cánh tay bị còng của lão quàng theo cái kệ audio, thứ tất sẽ đổ nhào nếu không có Walter ở đầu kia ghìm lại.

    “Mày để tiền chỗ nào?” Snake hỏi lại, chuẩn bị cho cú lên gối thứ hai.

    “Trong túi quần tôi,” Arthur hổn hển, nước mắt nước mũi lã chã. “Nó ở trong túi quần tôi! Đừng có đá nữa!”

    Vừa mếu máo, Arthur vừa mò mẫm bàn tay không bị còng xuống túi quần bên phải. Lão lôi ra một xấp dày cộm toàn giấy 20$, tổng cộng 4,500$ - phần còn lại của 5,000$ cướp từ tiền hối lộ của Pennultimate, Inc.. Lão run rẩy trao xấp giấy bạc cho Snake, kẻ cả đời chưa từng thấy chứ huống hồ được cầm nắm một số tiền lớn đến thế. Snake càng bị thuyết phục hơn lúc nào hết, rằng trùm ma túy là lựa chọn nghề nghiệp tối thượng, loại nghề nghiệp mà ở đó một thằng có thể nhơn nhơn đi khắp nơi với cái túi quần căng phồng tiền mặt.

    “Còn nữa không?” Snake hỏi, lại co chân lên. Nó không nghĩ là còn, chỉ khoái hù cho thằng trùm khúm rúm coi chơi. Tụi sếp sòng này hả, cứ thẳng dái chúng mà đá, chúng nhũn như con chi chi liền à.

    “KHÔNG!” Arthur bù lu bù loa. “Làm ơn cứ lấy tiền, lấy va-li, lấy con nhỏ đi, nhưng hãy để tôi yên.”

    Nghe đến câu lấy con nhỏ, Anna lồng lên như mãnh hổ, bất chấp đôi tay bị trói, nhào đến như muốn ăn tươi nuốt sống Arthur.

    “Thằng súc sinh!” nàng gào lên, “Sao mày dám?”

    Snake sấn tới, rồi với một vẻ khoan thai bộ tịch, giơ chân đạp cho Anna bật ngửa xuống sàn. Matt vùng phắt dậy, xồ tới như muốn che chắn cho nàng, chỉ để lãnh trọn một cước lộng óc của Snake vào khuôn mặt dập dụa bê bết máu của mình. Matt đổ mọp xuống sàn, ầng ậc rên rỉ. Đến phiên Monica rục rịch chồm dậy, song Snake tốp cô lại bằng một cái lườm, đoạn nó chĩa súng vào Walter, kẻ đang phì phò hồng hộc như muốn lao đến cùng cái kệ audio.

    “Tới đi, thằng lực sĩ,” Snake nói. “Cố lên.”

    Jenny chật vật lết tới và quì xuống bên mẹ cô. Lìa mắt khỏi Walter, Snake quay sang nắm tóc Jenny kéo đi xềnh xệch khiến cô la lên oai oái.

    Tay nắm tóc cô gái đang nức nở, nó bảo Anna, “Yên chí đi, mama. Tôi có ăn thịt ăn cá gì cổ đâu mà mẹ lo.”

    “Làm ơn,” Anna nghẹn ngào. “Làm ơn buông nó ra. Cứ lấy tôi nè. Ông muốn làm gì tôi cũng được. Xin ông.”

    Vụ này làm thằng Snake suy nghĩ.

    “Mày sẽ cho tao coi vú chớ?” nó hỏi.

    “Gì?” Jenny rùng mình.

    Anna nhìn thẳng vào Snake. “Được,” nàng nói.

    “Eddie,” Snake nói. “Mở áo của bà đây ra.”

    “Trời ơi trời, Snake,” Eddie ú ớ, “tao không ...”

    “Làm mau,” Snake nói.

    Eddie tiu nghỉu cúi xuống Anna và khởi sự mò mẫm các cúc áo trên chiếc blouse của nàng. Nó cố để nói với nàng, bằng ánh mắt, rằng nó rất tiếc, duy nàng không nhìn nó; nàng đang nhìn trừng trừng Snake. Eddie đã cởi hết các cúc và mở chiếc blouse ra, phơi bày một cóc xê trắng viền đăng ten.

    “Giở nó lên,” Snake liếm môi.

    Nín thở, Eddie nhấc cái cóc xê lên. Đôi gò bồng đào đầy đặn, mềm mại của Anna lộ ra.

    “Lạy Chúa,” Jenny thều thào dưới chân Snake. Cô nhắm mắt, nguyện cầu cho khoảnh khắc này qua đi. “Lạy Chúa.”

    “Im mồm,” Snake vừa nói vừa giật tóc cô, nhưng vẫn không rời mắt khỏi bộ ngực Annna. Nó đang cương. Đoạn nó bảo Anna, “Cho tao bú cái được không?”

    “Ôi trời,” Monica thốt lên. “Thằng biến thái mất dạy bệnh hoạn, mày ...”

    “Được,” Anna cắt lời, vẫn nhìn thẳng vào Snake. “Được. Thả con bé ra, rồi mày cứ bú mặc sức.”

    Snake làm bộ đắn đo, ôi chao, lời đề nghị từ người đàn bà ngực trần tuyệt vọng trước mặt nó. Có cái tuyệt nào bằng cái tuyệt này.

    “Mà thôi,” nó nói, giật tóc Jenny thêm lần nữa, kéo xích khuôn mặt giàn giụa nước mắt về phía hạ bộ của nó. “Tao nghĩ vú của nhỏ này chắc ngon hơn.”

    “KHÔNG!” Anna gầm lên, nhìn Snake với ánh mắt tóe lửa như muốn thiêu sống nó. Nàng ra sức để trấn tĩnh. “Mày mà làm hại con bé,” nàng nói, “Thề có Chúa tao sẽ xé xác mày!”

    “Chắc rồi,” Snake cười khẩy. “Mày có thể bem tao với cặp vú bự đó.” Nó lè lưỡi liếm liếm vào không khí, đoạn kéo Jenny đứng dậy và quay sang Walter.

    “Cậu bé lực sĩ,” hắn nói, “ai giữ chìa khóa xe cảnh sát?”

    Walter, phát điên bởi nỗi uất hận không thể tự tay mình bóp nát thằng tiểu nhân bỉ ổi này, nghiến chặt quai hàm và mắt long sòng sọc nhìn Snake, cố để giết hắn bằng cơn giận của mình.

    Snake chĩa súng thẳng mặt Walter và nói, chậm rãi, “Nói tao biết đứa nào giữ chìa khóa.”

    Walter thở phì phò qua đằng mũi. Sau cùng, hắn trè trẹ qua kẽ răng, “Nó ở trong xe, đồ cặn bã.”

    Nghe tiếng “đồ cặn bã” là thằng Snake bóp cò liền. Nó định bắn Walter – nó đã nhắm vào đầu hắn – duy lúc bóp cò, nó đã để khẩu súng bị giật, và viên đạn đâm xuyên qua tường cách đầu Walter chỉ vài phân. Snake ngạc nhiên: nó đã đinh ninh mình là một tay thiện xạ bẩm sinh, sau cái lần hô biến Jerry Springer trong một nốt nhạc. Duy nó sớm hí hửng trở lại khi nhìn thằng to xác kia co ro rúm ró, sợ té đái rõ! Snake định bụng sẽ làm như đó là phát súng cảnh cáo.

    “Phát tiếp theo là ngay thẳng cái mặt mẹt của mày đó, đồ cặn bã,” nó nói. Đoạn nó hướng súng vào Puggy, người từ nãy đến giờ vẫn ngồi xổm trên sàn nhà, như thường lệ, hi vọng được người đời lãng quên.

    “Xách va-li lên,” nó nói.

    Thở dài, Puggy đứng dậy nhấc va-li.

    Snake chộp cánh tay Jenny, rồi biểu Eddie, “Lượn thôi. Ta phải lên máy bay cho kịp.”

    Eddie nghĩ bụng, máy bay nào vậy trời? Nhưng nó không có gan hỏi. Quả tình nó không muốn đi chung với cái thằng Snake mới, thằng điên này chút nào. Song ý tưởng ở lại đây cùng bọn cớm cũng chẳng mấy hấp dẫn Eddie. Nó đành miễn cưỡng theo chân Snake, kẻ đang kéo tay Jenny và đang lùa Puggy về phía tiền sảnh.

    Snake đã định đồ sát hết thảy mọi mạng trong phòng khách, nhưng rồi nó cân nhắc – vô nghề này phải biết nhìn xa trông rộng – về việc để dành ít đạn phòng khi cần dùng đến ở Bahamas, trong bước khởi nghiệp làm trùm ma túy. Hơn nữa, nó có nghe loáng thoáng sẽ lôi thôi to nếu giết cớm. Mà nhìn đường nào bọn tù binh cũng có gì đáng ngại đâu: hai thằng đàn ông đã bị cùm, bọn đàn bà và thằng oắt thì bị trói. Snake có một xấp tiền mặt dày cui và một cái va-li – giờ thì nó hoàn toàn tin chắc – chất đầy ma túy xịn. Nó có ba khẩu súng. Nó có một con bé xinh xẻo, một con thỏ non đang run sợ để tận hưởng sau đây, khi thư thư chút. Nó đang trên đỉnh của thế giới, đúng thế thật. Và cứ nghĩ mà xem: mới sáng hôm đó thôi, nó hãy còn là một thằng bụi đời rẻ rách.

    Chừng Snake mở cánh cửa trước ra, Anna cất tiếng gọi sau lưng nó, giọng nàng khô khốc tuyệt vọng. “Làm ơn,” nàng van lơn. “Lạy Chúa, làm ơn đừng bắt nó đi.”

    “Yên chí đi, mama,” giọng thằng Snake vọng vào. “Tôi sẽ cho cổ được sung sướng mà.”

    Đoạn nó sập cửa lại, và mãi một lúc sau, âm vang độc nhất trong ngôi nhà là tiếng than khóc não lòng của Anna.



    “MÀY CÓ NGHE tiếng súng không?” Leonard hỏi.

    “Nghe như tiếng một khẩu pistol,” Henry nói. “Trong ngôi nhà đó.”

    Bộ đôi sát thủ đang đứng bên cái cây của Puggy. Henry đang nghỉ lấy hơi; hắn vừa dành ra mười phút để trèo lên cái sàn gỗ của Puggy – nơi hắn tìm thấy khẩu súng trường còn nguyên đạn được gói trong một tấm nhựa dẻo – rồi sau đó cẩn trọng trèo xuống.

    “Mày có nghĩ ông bạn mình bị thịt rồi không?” Leonard nói. “Băng Quần Tất đã đi trước mình chăng?”

    “Có thể,” Henry nói, tiến về phía ngôi nhà. “Hoặc, ai đó đã thịt chúng.”

    “Hoặc,” Leonard nói, tất tả chạy theo, “cuối cùng cũng có người chịu bắn con chó.”


    SNAKE LÙA PUGGY vào nằm chung với cái va-li trong cốp xe cảnh sát, rồi đóng mạnh nắp thùng. Đoạn nó tống Jenny lên băng sau và chui vào ngồi cạnh cô.

    “Mày lái đi,” nó bảo Eddie.

    “Tao chưa lái xe cớm bao giờ,” Eddie nói. Đúng hơn, đã mười lăm năm kể từ lần cuối nó cầm lái một chiếc ô tô, đương nhiên là ô tô ăn cắp được, và hành trình của nó khép lại với việc phi chiếc xe xuống một con kênh.

    “Xe đéo nào chả vậy,” Snake nói cứng, dù nó cũng thuộc dạng ù ù cạc cạc về xe hơi, bởi vậy nó mới sai thằng Eddie làm tài xế. “Cứ lái đại đi.”

    “Tới đâu?” Eddie hỏi.

    “Sân bay,” Snake đáp.

    “Biết đường không đó?” Eddie hỏi.

    “Tao đoán em bé này biết,” Snake đặt tay ra sau gáy Jenny và bấu mạnh. “Đúng không, em bé?”

    Jenny hức lên và gật đầu.

    Snake lại bấu vào gáy Jenny cái nữa.

    “Vậy mới là bé ngoan chớ,” nó cười gằn.



    “ÔNG BẢO LÀ đường Garbanzo, đấy nhỉ?” gã tài taxi nói.

    “Đúng rồi,” Eliot nói. “Garbanzo. Đường bên phải kế tiếp đó.”

    Gã tài hạ vận tốc để tiếp nhận thông tin ấy.

    “Đường bên phải, kế tiếp, đây hả?” nó hỏi.

    “Đúng rồi, quẹo phải liền đi,” Eliot bấu chặt ghế để không phải hét lên.

    Gã tài tốp xe ở ngã tư và chăm chú ngó lên tấm bảng chỉ đường, như thể đang nghiên cứu một chòm tinh tú trên bầu trời đêm. Cuối cùng, hắn thốt lên: “Garbanzo.”

    “Mày ăn gì tao cúng,” Eliot lầm bầm rủa đoạn đẩy mạnh cửa xe, vứt một tờ hai mươi đô, tờ nhỏ nhất anh có, lên ghế trước và chui ra ngoài. Anh dập cửa cái rầm và tức tốc chạy về phía nhà Herk.

    Gã tài taxi ngó xuống tờ hai mươi, rồi ngó theo dáng hình xấp xãi xa dần của Eliot.

    “Gì gấp dữ vậy trời?” hắn tặc lưỡi.



    EDDIE VẶN CÁI khóa điện, và con xe cảnh sát V-8 gầm lên hung hãn. Radio lạo xạo một giọng nói đang đọc mấy con số, khiến Eddie càng căng thẳng hơn. Nó ngoái cổ nhìn qua lớp cửa kính sau xe.

    “Ở sau có cái cổng,” nó bảo Snake.

    “Tao biết ở sau có cái cổng,” Snake nói. “Cứ lụi thẳng vô, tự khắc nó mở à.”

    Eddie hồi hộp cài số de rồi dậm chân ga. Máy nổ ầm ầm. Chiếc ô tô rung lên, nhưng không nhúc nhích.

    “Ủa, sao nó không chạy ta,” Eddie lúng búng.

    Snake chồm lên ghế trước coi thử. “Chưa kéo thắng tay kìa, thằng ngu,” nó chỉ vào một thanh cứng có chữ PHANH bên đầu gối trái Eddie.

    Eddie vẫn dậm chân ga, đồng thời kéo thanh cứng đó xuống. Bánh xe rít lên và chiếc ô tô vọt lùi ra sau, xô đổ cánh cổng. Vừa ra tới đường Garbanzo, Eddie cuống cuồng đạp mạnh chân phanh và xoay vô lăng; chiếc xe cảnh sát xoay tít một vòng mù khói trước khi ngừng hẳn, lò xo chống xóc rung lên hai lần.

    “Má ơi,” Eddie tái mặt.

    Chợt nó thấy một dáng người trên vỉa hè sát cạnh cái cổng đổ. Một cha nội bận quần soóc đang chửi um sùm.

    “Dông lẹ!” Snake hối. “Lẹ lên!”

    Eddie lật đật cài số tiến và dậm mạnh chân ga. Con xe lao đi theo hình zigzag, suýt lụi vào một chiếc taxi. Rồi như tỉnh khỏi cơn say, nó tìm được sự thăng bằng cần có và xé gió vút đi trong đêm thâu.
     
  11. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    CHÍN




    “Tôi có các quyền của mình,” Dũng Sĩ Trừ Gian Jack Pendick tuyên bố, có lẽ là lần thứ bốn mươi kể từ lúc được các bạn dân rước về đồn.

    “Hẳn rồi, ông Pendick,” Thám tử Harvey Baker ôn tồn nói. “Gì chứ quyền thì ông có cả sớ ấy chứ. Và tôi chắc ông sẽ được xài không thiếu cái nào đâu, khỏi lo. Nhưng trước tiên tôi cần ông đi theo các thầy chú này, họ sẽ dìu ông đến một căn phòng ấm cúng đặng ông có thể nghỉ lưng, và nghĩ xem có cách nào giảm độ cồn trong máu xuống dưới 300 phần trăm không, OK?”

    “Tôi sẽ được trả lại súng chớ?” Pendick hỏi.

    “Cố nhiên!” Baker đáp. “Ngay sau khi chúng tôi làm vài bài test, và một viên kẹo dẻo biết nói đắc cử tổng thống.”

    “OK,” Pendick nói với vẻ hài lòng. “Bởi tôi có các quyền của mình mà.”

    Sau khi Pendick được dẫn đi, Baker điện lên phòng trực tin, lần thứ ba tối hôm ấy, để hỏi xem Ramirez và Kramitz đã báo cáo gì về chưa. Chưa luôn. Baker đâm lo. Ông đã toan cử một xe cảnh sát khác đến chỗ họ để kiểm tra. Nhưng rồi, chính ông cũng chẳng biết tại sao, Baker quyết định sẽ tự mình lái xe đến nhà Herk.



    Ngay khi chắc mẩm bọn người xấu đã đi khỏi, Nina liền bước ra khỏi phòng mình. Ban nãy khi nghe tiếng thét, cô đã hé cửa nhìn ra và tá hỏa khi thấy một thằng không biết yêu quái phương nào ở cuối hành lang, cạnh tiền sảnh. Nó đang trùm bít tất hay thứ gì tương tự kín bưng mặt, khiến nó trông thuôn đuột như một con rắn. Nó cầm một khẩu súng và đang nạt nộ ai đó. May thay nó không thấy cô. Cô rón rén đóng và chốt cửa lại. Ba hồi cô lại nghe ai đó rú lên và súng nổ đì đoàng, trời ơi sợ muốn chết. Cũng nghĩ tới chuyện gọi cảnh sát chớ, mà trong phòng có cái điện thoại nào đâu. Cô đành ngồi im ru trên giường, úp mặt vào hai bàn tay, thắc thỏm chờ đợi tới khi có tiếng cửa đóng dội vào, và cô không còn nghe tăm hơi bọn người xấu nữa.

    Ra khỏi phòng, cô chạy huỳnh huỵch dọc theo hành lang, về hướng phát ra tiếng khóc của bà Anna. Vòng qua vách ngăn đến phòng khách, cô đứng sững như trời trồng và đưa tay lên che miệng. Coi, bà Anna đang nằm tênh hênh trên sàn, với đôi tay quặp bên dưới thân người. Chiếc blouse của bà mở ra hoang hoác và nịt ngực thì bị kéo lên; và đôi mắt bà nom hoang dã như mắt của một người điên. Phía sau bà là người nữ cảnh sát đã ở đây vào tối hôm nọ; cô ấy đang vật lộn với thứ gì đó ở sau lưng. Phía sau cô ấy là Matt, một người bạn của cô Jenny, máu me loang lổ từ mũi anh ta và anh ta cũng đang vùng vằng với thứ gì đó sau lưng. Rồi nữa, sát bên cái kệ audio mà Nina lau chùi tuần một lần, người cảnh sát vạm vỡ tối nọ đang vừa chửi đổng vừa hùng hục lay mạnh thứ gì đó. Ở đầu kia của kệ audio, ông Herk cũng đang làm in hệt vậy.

    Nina lật đật chạy đến bên Anna. “Bà Anna!” cô nói, kéo nịt ngực của Anna xuống.

    “Nina ơi, tụi nó bắt Jenny đi rồi,” Anna mếu máo. “Tụi nó bắt con bé rồi.”

    “Nina,” Monica nói, xoay người sang và chìa đôi bàn tay bị trói của cô ra. “Cởi trói cho tôi. Desatame.

    Nina thoăn thoắt gỡ những nút thắt trên cổ tay của Monica rồi tháo lỏng nó. Tới phiên Nina cởi trói cho Anna, trong khi Monica giải thoát cho Matt.

    “Tôi cần một chiếc xe,” Monica nói.

    “Xe của ba em ngoài kia,” Matt nói, lục túi lấy ra xâu chìa khóa. “Con Kia.”

    “Cảm ơn nghen,” Monica nói, vơ lấy chùm chìa khóa.

    “Cô tính làm gì vậy, Monica?” Từ kệ audio, Walter cất tiếng hỏi.

    “Rượt theo thằng biến thái đó trước khi nó đi quá xa,” Monica nói.

    “Biết nó đi đâu mà rượt?” Walter hỏi.

    “Nó nói cần bắt kịp chuyến bay,” Monica nói. “Tôi đồ nó đang ra sân bay Miami.”

    “Tháo còng cho tôi đã rồi đi đâu đi,” Walter nói, giật giật cánh tay bị còng của hắn.

    “Walter,” Monica nói, “Tôi không có chìa khóa còng, và cũng không rảnh để ngồi cưa cái kệ đó. Cố gắng tự giải thoát rồi phôn về sở, bảo họ điều quân đến sân bay liền nghen.”

    “Cô không thể để tôi kẹt ở đây!” Walter giãy nảy. “Tự giải thoát cái con ...”

    “Walter,” Monica nói, hối hả bước về phía cửa, “Tôi phải đi ngay bây giờ.”

    “CỨT,” Walter điên cuồng lắc cái kệ audio, khiến khung hình của Jenny và Anna chao đảo rồi rơi xuống sàn nhà. “CỨT!”

    Anna bắt kịp Monica trong tiền sảnh. “Tôi sẽ đi với cô,” nàng nói.

    “Thôi, chị cứ ở nhà đi mà,” Monica đặt tay lên nắm cửa.

    Anna siết mạnh cánh tay Monica bằng cả hai bàn tay nàng. “Đó là con gái tôi,” giọng nàng đanh thép, “và tôi sẽ đi với cô.”

    Monica thấy rõ nếu muốn bỏ người đàn bà này lại, cô chỉ có nước choảng nhau với bà ta.

    “OK,” cô nói và đẩy cửa.

    “Em đi nữa!” Matt lên tiếng khi vừa đặt chân vào tiền sảnh.

    Monica ngoái cổ nhìn nó.

    “Xe của ba em mà,” nó lý sự.

    “Trời đất,” Monica vỗ trán đoạn bước qua cửa, Anna và Matt luýnh xuýnh theo sau.


    TRÊN HÀNG HIÊN, con Roger đang cào cửa kính và sủa ăng ẳng. Thỉnh thoảng khi nó làm thế, có người sẽ ra mở cửa, dắt nó vào nhà và đem thức ăn cho nó. Duy lần này chẳng thấy ma nào ló mặt. Roger nghe có tiếng lao nhao trong nhà. Nó cào vào cửa kính vài lần nữa. Cũng không ăn thua. Roger thở dài, quay lại với công chuyện gầm gừ Cóc Thù Địch.



    ELIOT CHÍNH LÀ người suýt bị chiếc xe cảnh sát lụi trúng, nếu không nhờ pha nhảy tránh trong đường tơ kẽ tóc, chậm chút xíu là rồi. Sau khi chửi đã, anh đứng gập người trên vỉa hè một chặp, tay chống lên đầu gối, cố lấy lại bình tĩnh. Điệu này không kiện sở cảnh sát cũng uổng . Thằng điên này phóng bạt mạng ra đường, đã vậy còn gài số de. Xô đổ mẹ nó cánh cổng!

    Eliot hít vào thở ra vài cái, xốc lại tinh thần, đoạn bước qua cánh cổng đổ và lẹ làng rảo bước trên lối vào nhà. Eliot vừa sờ vào quả đấm thì cánh cửa trước đã tự động bật tung ra, và anh suýt bị nốc ao bởi một nữ cảnh sát, người mà anh nhận ra sau một giây hoàn hồn, chính là nữ cảnh sát anh đã gặp tối hôm nọ. Trông cô có vẻ rất kích động. Cô túm ngay cổ áo Eliot.

    “Chúng đi ngõ nào rồi?” cô hỏi.

    “Cảnh sát ấy hả?” Eliot ú ớ. “Bọn ngu ấy suýt thì ...”

    “Cảnh sát cái đách gì,” Monica xẵng giọng. “Chúng là cướp.”

    “Hả?” Eliot ngơ ngác. Đoạn anh thấy Anna, trông còn kích động hơn cả Monica, và Matt, với máu me lấm lem trên mặt lẫn trên áo.

    “Matt!” anh hỏi quính. “Con có sao không?”

    “Chúng bắt Jenny rồi!” Matt nói. “Mình phải đuổi theo bạn ấy!”

    “Bắt Jenny hả?” Eliot trố mắt. “Chúng làm cái ...”

    “CHÚNG ĐI NGÕ NÀO HẢ?” Monica quát, giật mạnh áo phông của Eliot.

    “Ngõ kia,” Eliot nói, “thẳng xuống đường Garbanzo. Ta có thể đuổi theo chúng bằng ...”

    Song Monica, Matt, và Anna đã phóng đến con Kia rồi. Eliot đuổi theo vừa kịp để nhảy vào băng sau cùng Anna. Anh vừa đóng cửa thì có ai đó đã giật ra lại. Đó là Nina.

    “Nina!” Anna nói. “Thôi em ơi ...”

    “Cô phải ở lại đây,” Monica nói và rồ máy. “Quedate!”

    “Không,” Nina đáp xẵng, chui tót vào ngồi cạnh Eliot đoạn dập mạnh cửa. Không đời nào cô chịu ở lại trong cái nhà điên khùng này, nhất là với lão Herk.

    “Ôi trời,” Monica chắt lưỡi than thở, đoạn rồ máy và phóng chiếc Kia ra khỏi tư gia.



    “GIỜ SAO NỮA?” Snake hỏi Jenny. Chiếc xe tuần tiễu đang bon bon theo hướng bắc Le Jeune Road.

    “Cứ đi thẳng,” giọng Jenny lạnh tanh.

    “Giỏi lắm em bé,” Snake cợt nhả, bàn tay nó đang mơn trớn gáy Jenny. Cô vùng vằng đẩy nó ra. Nó kéo cô lại sát hơn. Mùi thối hoăng từ người nó xông ra nồng nặc con xe bít bùng.

    Ở ghế trước, Eddie đang bám lấy vô lăng như kẻ sắp chết đuối bám lấy chiếc phao cứu sinh. Nó đang điều khiển con xe theo cách cực kì khó lường, song đó cũng chẳng phải chuyện lạ ở Miami, nơi mà bà con mạnh ai nấy chạy theo luật giao thông và tập quán ở quê mình. Huống hồ Eddie đang lái một chiếc xe cảnh sát, nên dẫu có vượt đèn đỏ – điều nó đã làm, hai lần – cũng không có dân nào bóp còi phản đối.

    “Snake,” nó nói, “ở sân bay thiên hạ đông đen, có cớm nữa đó mày.”

    “Thì sao?” Snake cười khẩy. Cớm mà ăn thua gì. Nó vừa xích một thằng cớm vào kệ audio đấy thôi.

    “Thì,” Eddie cố để không gắt lên, “mình đang ở trong một chiếc xe cảnh sát, và trong trường hợp mày quên, mình hổng phải cảnh sát. Hay thôi cứ tấp đại vào đâu đó, bỏ lại chiếc xe, bỏ lại con nhỏ, bỏ lại thằng khứa trong cốp xe, lấy tiền rồi cút mẹ khỏi đây cho rồi.”

    Snake thở dài. “Đó là luận điệu của bọn thua cuộc, Eddie à,” nó giở giọng kẻ cả. “Bộ mày không thấy mình vừa làm gì sao? Mình hạ tụi chó đẻ ở quán, mình hạ bọn cớm, mình hạ thằng trùm ma túy. Mình đang thắng như chẻ tre, Eddie à. Và mình sẽ còn thắng tiếp, thắng to.” Snake không thể tin nó đã phí hoài cả một quãng đời chỉ để ăn mày thiên hạ chút tiền còm. Cho từng đồng xu chết dẫm. Đã đến lúc rũ bùn đứng dậy. Mà đâu chỉ đứng dậy không thôi, nó đang tiến phăng phăng, đến một tương lai ngời sáng đang vẫy gọi qua tấm kính chắn gió, phía trên đôi tay cứng đờ của cái thằng nay mai chỉ còn là cựu thuộc hạ của nó.



    WALTER RUN LÊN vì điên tiết, tuồng như muốn rứt đứt cánh tay mình ra khỏi ổ cắm. Cộng sự của hắn đang trong một cuộc đuổi bắt bằng ô tô. Can hệ đến bọn cướp có vũ trang. Đó là giấc mơ từ ngày vào ngành của Walter, và giờ coi, hắn đang bị còng vào một cái kệ audio. Bởi chính còng tay của hắn!

    Vận hết mọi thành công lực có được qua bao ngày khổ luyện ở phòng gym, Walter giựt mạnh cái kệ audio, khiến nó chúi nhụi ra trước và kéo ghì Walter lẫn Arthur phủ phục xuống sàn nhà. Chiếc kệ kềnh càng đổ uỳnh, vỡ toang những giá đỡ bằng kính và lăn lông lốc quanh phòng các thành phần của dàn stereo. Song vẫn nguyên xi là bộ khung của nó; với những ống thép dày được hàn với nhau một cách kiên cố.

    “Ông làm cái chó chết gì vậy?” Arthur sửng cồ.

    “Cố đập bể nó chứ gì nữa,” Walter đáp. “Bộ ông không muốn ra khỏi đây sao? Không muốn giúp gia đình mình sao?”

    Arthur nín thinh. Câu trả lời từ đáy lòng là: không.

    “Cứt,” Walter lại giật cặp còng một cách vô nghĩa. Hắn nói với Arthur, “Ta cần gọi điện.”

    “Tụi nó rứt mẹ hết dây nhợ rồi còn đâu,” Arthur nói.

    “Ông có điện thoại trong phòng ngủ chứ?” Walter hỏi. “Cuối hàng lang đúng không?”

    “Ờ,” Arthur nói, “nhưng mà làm thế nào ...”

    “Phụ tôi dựng cái này lên trước đã,” Walter nói, ra sức nhấc cái kệ đứng thẳng trở lại.

    “Sức mấy mà kéo nó đi xa chừng đó?” Arthur làu bàu.

    “Cứ thử xem,” Walter nói.

    “Ông không thể ép tôi,” Arthur nói.

    Walter xô mạnh cái kệ về phía Arthur; nó đập vào vai lão.

    “Úi da!” Arthur ré lên.

    “Mau phụ tôi dựng nó lên,” Walter đanh giọng, “lèm bèm nữa tôi ủi ông vô tường cho dẹp lép.”

    Với những nỗ lực tột bực, phần lớn đến từ Walter, họ dựng cái kệ đứng thẳng trở lại rồi hì hục lớp kéo lớp đẩy nó ra hành lang, nơi Walter nhận ra nó quá cao so với trần nhà ở đó.

    “Cứt!” hắn nói. “Phải ra ngoài thôi.”

    “Hở?” Arthur há hốc.

    “Phải ra ngoài, hô to để hàng xóm tới giúp,” Walter cắt nghĩa.

    “Ra ngoài?” Arthur trợn mắt. “Với cái đồ thiên lôi này? Bộ ông hết chuyện chơi rồi hả?”

    Song Walter đâu còn nghe gì nữa. Hắn lướt mắt về phía tiền sảnh; không cách gì cái kệ này có thể lọt qua cửa trước. Vậy hồi đầu họ đưa nó vào nhà bằng cách nào? Hắn nhìn sang phòng khách, câu trả lời đây rồi.

    “Lối này,” dứt lời hắn hùng hổ kéo mạnh cái kệ audio, lần này thì có mục đích hẳn hoi.



    “THẦY GÌ KHÔNG?” Leonard lên tiếng hỏi. Hắn với Henry đang ẩn mình trong vườn thực vật um tùm trổ ra từ hàng hiên nhà Herk.

    “Không,” Henry nói. “Nhưng nghe thì có.”

    “Ờ,” Leonard nói. “Nghe như chúng đang đập bàn đập ghế ở trỏng. Hoặc vậy, hoặc đang mở nhạc rap.”

    “Sao cũng được,” Henry nói, “tao đã sẵn sàng để ... Ê, coi kìa.”

    “Trời đất quỷ thần ơi,” Leonard bàng hoàng thốt lên, khi hiện ra trước mắt hắn là bộ dáng nhăn nhó bái xái bài xai của Walter Kramitz, đang kéo lê cái kệ audio như một loại khổ hình dưới âm ty. “Cớm hả?”

    “Sở cảnh sát Miami,” Henry nói. “Cái thằng đô con gớm. Mà nó làm quái gì ở đây nhỉ?”

    “Hình như nó bị xích vào một cái ... Chắc tao chết,” Leonard thảng thốt, khi dáng hình của Arthur hiện ra.

    “Ông bạn mình kìa,” Henry nói. “Đời hắn sôi động gớm nhỉ?”

    Cả hai cùng quan sát gã sĩ quan cảnh sát to lớn mặt mày đỏ gay, đang ra sức kéo lê một cái kệ còn to lớn hơn, theo sau là Arthur Herk mặt nhăn như khỉ ăn ớt, lặc lè tiến về phía cánh cửa kính mà Henry đã bắn thủng đêm hôm nọ. Cái lỗ đã được ai đó dán lại bằng băng keo.

    Khi họ còn cách cánh cửa tầm một thước, Henry nói, “Tao có quyết định rồi.”

    “Và đó là?” Leonard hỏi.

    “Dứt điểm ông bạn mình.”

    Bây giờ luôn hả?” Leonard hỏi. “Với thằng cớm kè kè bên cạnh?”

    “Ừa,” Henry nói. “Thằng cớm mà kể số gì nữa, bị xích vô của nợ đó rồi. Và tao muốn làm xong phứt vụ này rồi dông lẹ. Ở đây lâu chắc sanh bệnh quá.”

    “Mày nói chí lí,” Leonard đồng tình. “Cứ như Thị Trấn Kinh Dị Mỹ.”

    “Xong vụ này,” Henry vừa nói vừa nâng khẩu súng trường lên, “rồi mình điện ra sân bay đặt vé luôn.”

    “Amen,” Leonard nói, phẩy tay vu vơ vào một con muỗi. “Nghe hai tiếng sân bay sao mà mát lòng mát dạ.



    ROGER PHÂN VÂN. Một bên, nó có Cóc Thù Địch để thị uy. Một bên, nó có hai người từ trong nhà đi ra, và họ có thể mang theo thức ăn. Đâu đã hết, lại còn hai con người khác nữa, những người vừa nãy nó đã chào đón ở cuối sân vườn, đang tiến lại gần hơn. Roger hồi tưởng, đâu đó trong những mạch não nguyên thủy của nó, những con người này có vị rất ngon. Có lẽ nó nên thử qua họ lần nữa! Nhưng còn con cóc thì sao? Rồi mấy người trong nhà? Nhiều lựa chọn quá cũng khổ!



    WALTER CỐ MỞ cánh cửa sân hiên; nó đã bị khóa, kiểu khóa cần một cái chìa để mở.

    “Chìa khóa đâu?” hắn hỏi Arthur.

    “Không biết,” Arthur đáp cộc. Lão đang điên tiết. Máu đang ứa ra từ cổ tay lão, chỗ mà cái còng cọ vào.

    “OK, vậy chơi kiểu này,” Walter nhích cái kệ audio cho nó song song với cánh cửa sân hiên. “Đếm tới ba, ta sẽ đập thứ này vào cửa.”

    “Dẹp mẹ đi,” Arthur nói.

    Walter bắt đầu, “Một.”



    “CHÚNG ĐANG LÀM gì thế?” Leonard hỏi.

    “Chúng đang tạo ra một mục tiêu tuyệt hảo,” Henry đáp, điều chỉnh thước ngắm.



    “HAI,” Walter hô.

    Thủy tinh đó, đồ điên!” Arthur phát hoảng. “Đừng kéo tao chết chung chớ!”

    “Ba,” Walter hô, vận hết sức bình sinh quật cái kệ về phía trước. Chính trong khoảnh khắc đó, có hai sự kiện diễn ra đồng thời. Một: Henry siết cò. Hai: Roger, quyết định xoay sở trong thời gian biểu chật kín của mình để chiếu cố những người bạn mới, đã sục mõm vào háng Henry. Kết quả là viên đạn, thay vì xuyên qua sọ Arthur, chỉ lướt qua nó trong gang tấc. Thật khó kết luận đó là phúc hay họa cho Arthur, chiếu trong ánh sáng của những gì xảy ra sau đó: Bị lôi đi dưới sức nặng của cái kệ thép, Arthur bổ nhào qua cánh cửa vỡ, mặt cắm ngập vào tô cơm của Roger, môi và mũi lão dính chặt vào đó, ngay trước mũi con Cóc Thù Địch.

    Con cóc, không có ý định san sẻ phần cơm của Roger, cấp kỳ trút tuyến lệ đằng sau mắt nó, bắn phọt hai tia lớn trắng đục dồi dào bufotenine, chất gây ảo giác, vào mặt Arthur. Arthur hét toáng lên và lồng lộn giựt cái tô ra khỏi đầu. Con cóc lại tiếp tục bữa ăn của nó.


    HENRY VÀ LEONARD tiến về phía bức tường, không chạy, nhưng đi thoăn thoắt trong bóng đêm.

    “Mày bắn trúng chớ?” Leonard hỏi.

    “Chắc vậy,” Henry nói. “Con chó nhảy sảng vô tao, nhưng tao thấy rõ ông bạn mình đã gục rồi.”

    “Thằng cớm cũng gục,” Leonard tiếp lời.

    “Ừ,” Henry nói. “Tao nghĩ nó thụp xuống khi nghe tiếng súng.”

    “Mày nghĩ hai đứa nó đốc chứng mà lại kéo lê một cái kệ tổ bố quanh nhà kia chứ?” Leonard hỏi.

    “Thua,” Henry lắc đầu.

    “Thị Trấn Kinh Dị Mỹ,” Leonard chắt lưỡi.



    “ĐƯỜNG GÌ TÊN Garbanzo trời?” Greer cười lạt. Y đang đọc bản đồ trong khi Seitz lái xe. “Nghe thử mấy tên đường ở đây nè. Loquat. Kumquat. Tin nổi không? Kumquat. Rẽ trái chỗ này. Anh nghĩ cái va-li ta cần tìm có đó không?”

    “Dám lắm,” Seitz gật gù. “Ừ thì ta bị việt vị cũng nhiều rồi, nhưng tôi đang nghiêng về việc bạn già Ivan nói thật.”

    “Tôi cũng vậy,” Greer nói. “Nó chắc không muốn chiếc giày còn lại cũng có lỗ thông gió. Tới rồi, 238 Garbanzo, trên ... Ủa cái cổng bị sao vậy?”

    “Coi bộ ai đó đã đùng đùng bỏ đi,” Seitz nói.

    “Ai? Mà đi đâu?” Greer thắc mắc.

    “Hi vọng người nhà có thể cho ta biết,” Seitz nói.



    WALTER LOM KHOM giữa ngổn ngang thủy tinh vỡ, cố xoay sở để dỡ cái kệ lên. Không có trợ giúp nào từ Arthur, kẻ vẫn đang nằm sấp ở đầu kia, kêu la oai oái và chà lấy chà để mặt mình với bàn tay không bị còng.

    “THÔI mà,” Walter vừa nói vừa lắc cái kệ. “ĐỨNG DẬY coi.”

    “Mặt tôi!” Arthur nói. “Nó xịt lên mặt tôi!”

    “Thây kệ nó đi,” Walter nói, “tìm y tế cho ông cái một à, nếu ta bỏ được cái ...”

    “XÊ RA!” Arthur bỗng hét sảng. “ÔI CHỜI ƠI, ĐỪNG LẠI ĐÂY!”

    Arthur đang hét quáng vào Roger đang đứng cách lão chừng năm tấc, khịt khịt mấy mẩu thức ăn bắn ra khỏi tô lúc Arthur cắm mặt vào. Nghe tiếng hét Roger ngóc đầu lên và phất đuôi tíu tít, ý bảo Arthur chờ xíu nó qua liền à, sau khi hoàn tất công chuyện quan trọng này đã.

    “Trời đất,” Walter nói. “Là con chó thôi mà. Mà chó của ông chớ ai.”

    Arthur quay sang Walter, gương mặt lão móp méo bởi nỗi kinh hoàng. “Ông không thấy hả?” lão hỏi. “Ông không thấy bả hả?”

    “Thấy cái gì?” Walter ngơ ngác. “Ông đang nói gì thế?”

    “BÀ TA!” Arthur nói. “ĐÚNG BÀ TA RỒI!!”

    “Ai cơ?” Walter hỏi.

    “MỤ ĐÀN BÀ ĐÓ!” Arthur nói, chỉ vào con Roger vẫn đang vẫy đuôi lia. “Mụ đàn bà ở cùng lão ấy, ông biết mà ... Bob Dole! Chính mụ vợ lão!”

    Walter nhìn Arthur, rồi nhìn Roger, rồi lại nhìn Arthur. “Ông nghĩ nó là Elizabeth Dole?”

    “PHẢI!” Arthur nói. “BẢ CHỚ AI NỮA!” Lão đang nhìn thẳng vào mụ ta, và mụ ta đích thị là Elizabeth Dole, người đàn bà luôn gây nên cho lão một nỗi khiếp sợ mơ hồ. Mụ đang ở ngay trước mặt lão, trên thềm nhà này. Nhưng cùng lúc đó mụ lại không phải Elizabeth Dole. Mụ có gương mặt của Elizabeth Dole với mái tóc chải chuốt kỳ khu, song ở vào chỗ đôi mắt mụ là hai quả cầu bỏng rực một màu đỏ tà ác, còn răng cộ của mụ thì to và nhọn hoắt như của loài dã thú. Và mụ đang chóp chép thức ăn cho chó mèo. Arthur biết – lão biết – rằng đó là Elizabeth Dole trong hình hài một con quỷ, và mụ đến đây để cướp lấy linh hồn lão.

    “CÚT ĐI!” Arthur hét vào con quỷ Elizabeth Dole. Mụ ta trừng trừng nhìn lão, cặp mắt mụ lóe sáng, cái đuôi quỷ ngúc ngoắc liên hồi. Mụ há cái mồm với những chiếc nanh sắc nhọn và bắt chuyện với lão, gọi tên lão bằng một giọng nghe rợn tóc gáy.

    “Herk!” Elizabeth Dole nói. “Herk! Herk!”

    “KHÔNG!” Arthur hét, điên cuồng giãy giụa mặc cho bàn tay bị cùm, cố bò lui lại. “KHÔNG!”

    “TỐP NGAY!” Walter quát. “Nó là một CON CHÓ, quỷ thần ơi!” Không có phản ứng nào từ Arthur, ánh mắt lão khóa chặt vào Roger và miệng lão lầm bầm rên rỉ. Tệ hơn, lão đang khởi sự sùi bọt mép. Walter biết không còn hi vọng gì được trợ giúp, nắm lấy cái kệ audio và ra sức dựng nó lên, với sinh vật mang tên Arthur ở đầu bên kia. Hắn hừ hự giở nó lên vỏn vẹn ba tấc, chỉ để buông ra ngay khi nghe một giọng nói vang lên sau lưng.

    “Anh vẫn ổn chứ sĩ quan?”

    Walter quay phắt lại và thấy hai gã vận com lê, một cao một thấp, đang đứng trong một cái lỗ toang hoác đã từng là tấm cửa kính.

    “Các ông là ai?” hắn cất tiếng hỏi.

    Người cao xòe cái ví đựng phù hiệu ra.

    “FBI,” y nói. “Tôi là Đặc vụ Pat Greer. Còn đây là Alan Seitz.”

    “Tạ ơn trời đất,” Walter thở phào. “Nghe này, tôi cần ông ...”

    “Bọn tôi đang tìm một người có tên Arthur Herk,” Greer nói.

    “Ông ta đó,” Walter chỉ vào Arthur. “Nhưng nghe này, tôi cần ông ...”

    “Bây giờ không tiện,” Greer phẩy tay.

    “Nhưng cộng sự của tôi đang ...”

    Đã nói là bây giờ không tiện,” Greer nghiêm giọng.

    Walter tức ứa ruột ứa gan, nhưng xét tình hình bản thân đang bị xích, và mấy cha này là FBI, hắn nghĩ nên tạm thời ngậm mồm thì hơn.

    Greer xán lại chỗ Arthur, lão vẫn đang nhìn châm bẫm con Roger. Sau khi xơi tái những hạt hạ nguyên tử cuối cùng của chỗ thức ăn rơi vãi, nó đang liếm lên mặt đất nơi chúng từng hiện diện với một vẻ thành kính.

    “Ông Herk,” Greer nói.

    Arthur chầm chậm quay đầu về phía Greer. Đồng tử của lão giờ có kích cỡ của một đồng xu.

    “Ông Herk này,” Greer nói, “Tôi ở bên FBI, và tôi cần ông cho biết cái va-li đang ở đâu.”

    Arthur mở miệng, một suối dãi ngầu bọt tràn xuống cổ áo lão.

    “Ông Herk,” Greer nói, “ông nghe tôi chứ? Chuyện này quan trọng lắm.”

    Arthur chầm chậm khép miệng, rồi lại mở nó ra và nói, “Bả muốn linh hồn tôi. Đừng để bả cướp linh hồn tôi.”

    “Đừng để ai cướp linh hồn ông?” Greer hỏi.

    “Bà ta,” Arthur chỉ vào Roger. Roger phe phẩy đuôi đáp lại.

    “Con chó hả?” Greer nhíu mày.

    “Ổng nghĩ con chó là Elizabeth Dole,” Walter cắt nghĩa.

    “Trời đất,” Greer xoa mặt. Y hỏi Seitz, “Anh nghĩ sao?”

    Seitz nhìn vào cặp mắt hãi hùng của Herk. “Hắn bay rồi,” y nói, “và chắc cũng còn lâu mới về lại trái đất.”

    Greer quay sang Walter, “Nghe này, chúng tôi có lí do để tin rằng ông Herk đã giữ một cái va-li, có thể bằng kim khí, khá nặng. Anh có thấy nó không?”

    Walter nghĩ ngợi một chặp. “Có,” hắn nói, “bọn chúng có một cái va-li. Chúng đem nó đi rồi.”

    “Chúng là ai?” Greer hỏi, dù y khá chắc mình đã biết qua lời kể của John.

    “Một thằng cô hồn nào đó, gọi là “Snake,” Walter nói. “Nó và một thằng cô hồn khác đã ở đây từ trước khi chúng tôi đến, tôi và cộng sự của tôi ấy. Nó có súng, bởi vậy nên ... Ý tôi là, chúng đã phủ đầu bọn tôi. Chúng bắt cô con gái của gã này” – hắn chỉ Arthur – “và một tên lùn râu ria. Tên lùn xách va-li. Chúng lấy xe của bọn tôi. Cộng sự của tôi đuổi theo chúng với bà vợ của gã này.”

    “Chúng đi đâu biết không?” Greer hỏi.

    “Sân bay,” Walter nói. “MIA. Thằng cô hồn nói nó phải bắt một chuyến bay.”

    “Nó có nói đi đâu không?” Seitz hỏi.

    “Không,” Walter nói. “Thú thực là Monica, cộng sự của tôi, chỉ đoán mò đó là MIA thôi.”

    Greer và Seitz nhìn nhau.

    “Anh nghĩ sao?” Greer nói.

    “Tôi nghĩ ta nên đến MIA,” Seitz nói.

    “Tôi cũng nghĩ thế,” Greer nói, đoạn vỗ vai Walter, “Trông chừng gã này dùm bọn tôi nghen.” Đoạn y quay gót bước đi.

    “Ơ kìa!” Walter thốt lên. “Ông đâu thể để tôi ở đây như vầy!”

    “Anh thông cảm cho,” Greer nói, “chúng tôi đang gấp lắm.”

    “NHƯNG TÔI LÀ MỘT SĨ QUAN CẢNH SÁT,” Walter nói.

    “Tôi biết chứ,” Greer dìu giọng. “Anh thậm chí còn là một cảnh sát kỳ tài nữa kia, bởi tôi không tìm thấy cách nào khác để cắt nghĩa chuyện anh đang bị xích vào một cái kệ audio, chung với một cha nội nhìn con chó thành Elizabeth Dole. Nhưng bọn tôi cần phải lên đường ngay lập tức, ở lại mạnh giỏi nghen.” Dứt lời, y và Seitz thoăn thoắt rảo bước vô nhà.

    “QUAY LẠI ĐÂY COI! BÀ MẸ NÓ!” Walter hét với theo.

    Arthur vẫn nhìn Roger chăm chăm, miệng lảm nhảm: “Bả sẽ đưa tôi đi, bả sẽ đưa tôi đi.” Thình lình, lão quay sang Walter. “Rồi bả sẽ đưa ông đi luôn.”

    “Herk! Herk!” giọng Elizabeth Dole lanh lảnh.



    “QUẸO TRÁI MAU!” Snake quát. “Bộ đéo thấy cái bảng hả mày?”

    Chiếc xe nhà nước giặc lái đang tiến về hướng bắc Le Jeune Road, trên làn ngoài cùng bên trái. Eddie nội lo nhìn đường cũng đủ mụ người, sức mấy để ý đến tấm bảng Miami International Airport. Nó đánh lút vô-lăng sang phải, lao xẹt qua ba làn giao thông, tạt đầu một chiếc taxi phanh gấp khiến bánh xe của nó nghiến đường ren rét. Chiếc taxi lạng vào phần đường của một chiếc bán tải Ford 1963 cọc cạch đang chở theo một thùng gỗ lớn. Chiếc bán tải huých vào sườn chiếc taxi, liểng xiểng về phía trước vài mét trước khi tốp hẳn, khói bốc mù mịt. Cú va chạm khiến thùng gỗ lật khỏi khoang xe và đáp xuống Le Jeune Road, nơi nó bị một con Toyota Tercel quẹt qua làm bật nắp, phóng thích những tù binh bên trong: tám con dê. Phần số của bầy dê này đã được định đoạt để rao bán ở Hialeah, hầu để sử dụng trong các nghi lễ hiến tế của các tín đồ giáo phái Santeria, song giờ đây chúng đang là những con dê tự do, thảnh thơi dạo bước giữa dòng xe cộ tấp nập huyên náo.

    Chẳng mảy may hay biết sự hỗn loạn chính mình châm ngòi ở phía sau, Eddie ngoặt xe vào đoạn đường dẫn vô sân bay, mắt nó hoa lên trước cả một đoàn diễu hành những bảng chỉ dẫn. Nào điểm đỗ xe, nào điểm trả xe thuê, nào nhà ga sân bay, và hà rầm những thứ mà Eddie chẳng có chút khái niệm nào.

    “Đi đường nào tiếp hả mày?” nó hỏi.

    Coi, thằng Snake cũng đi máy bay mấy đâu mà kêu nó bày. Nó căng mắt điều nghiên những bảng chỉ dẫn, hòng tìm ra thứ gì có dây mơ rễ má với Bahamas. Chẳng thấy gì.

    “Thì cứ đi tiếp,” nó nói.

    “OK,” Eddie nói, “có điều tới đây nó bắt mình phải chọn một trong hai, Cửa Đến hoặc Cửa Khởi Hành.”

    Với Snake, đó chẳng khác nào một câu hỏi bẫy. Một mặt, nó nghĩ nên chọn Cửa Đến, bởi tụi nó đang đến sân bay còn gì. Một mặt, nó lại đang muốn khởi hành từ sân bay, nên chắc Khởi Hành mới đúng quá. Snake định hỏi con nhỏ, nhưng làm vậy khác nào tự nhận mình dốt, huống hồ nhìn con nhỏ hồn xiêu phách lạc tới nơi rồi. Sau cùng, nó bèn quyết định năm ăn năm thua.

    “Khởi Hành,” nó nói.

    “Khởi Hành bên này,” Eddie nói và xoay vô lăng.



    KHI THÁM TỬ Harvey Baker đến địa chỉ nhà Herk, ông thấy cái cổng vào nằm vắt ngang vỉa hè, và không có bóng dáng chiếc xe cảnh sát nào. Ông đỗ xe trên đường cái rồi lẹ làng rảo bước về phía ngôi nhà. Cửa trước đã mở sẵn. Ông dừng trên bậc tam cấp một chặp và nghe ngóng; có tiếng bước chân hướng về phía ông từ trong nhà. Rút khẩu súng giắt ở vai ra, ông nép mình qua một bên cửa và chờ đợi. Hai người đàn ông phới ra từ căn nhà, bước đi gấp gáp.

    “Đứng lại,” Baker nói. “Cảnh sát đây.”

    Hai người đàn ông khựng lại và cùng quay về phía Baker. Người cao lêu ngêu thở dài.

    “Bọn tôi là FBI,” y nói.

    “Chứng minh được không?” Baker hỏi.

    “Được chứ, nếu ông cho phép tôi lấy phù hiệu ra,” Greer nói.

    “Từ từ thôi nghen,” Baker nói.

    Greer rút cái ví đựng phù hiệu và xòe nó ra. Baker nhìn qua rồi tra súng vào bao.

    “Tôi là Thám Tử Harvey Baker, Sở Cảnh Sát Miami,” ông nói.

    “Tôi là Đặc vụ Greer,” Greer nói. “Đây là Đặc vụ Seitz. Thôi hẹn ông thám tử bữa nào rảnh nói chuyện chơi, giờ bọn tôi phải đi gấp.”

    “Cho tôi biết chuyện gì đang diễn ra được không?” Baker hỏi.

    “Thú thật là,” Greer chắt lưỡi, “không.”

    Greer và Seitz khởi sự rảo bước. Baker rượt theo họ.

    “Này, chờ chút đã,” ông gọi.

    “Một chút cũng không có ông ơi,” Greer ngoái cổ nói.

    Baker chụp tay Greer kéo lại.

    “Không có thì làm cho có,” Baker trừng mắt.

    “Thám tử ơi,” Greer nói. “bọn tôi đang xử lí một vấn đề cấp liên bang cực kì nghiêm trọng, rất tiếc nhưng bọn tôi không có thì giờ để giải thích cho ông.” Dứt lời y và Seitz quay ngoắt lại và hối hả bước tiếp.

    “Dừng lại ngay,” Baker nói.

    Greer và Baker ngoái đầu và ngừng bước, bởi Baker lại lôi súng ra khè nữa.

    Greer lắc đầu, “Ông đang phạm sai lầm lớn đấy, Thám tử.”

    “Nghe đây,” Baker nghiêm giọng. “Các ông tới đây làm gì tôi không biết. Nhưng tôi tới đây bởi đã cắt cử hai sĩ quan tới đây, và họ vẫn bặt vô âm tín. Và khi tôi đến nơi thì thấy gì? Cổng bị phá, cửa nẻo hoang hoác và hai ông xuất hiện. Tôi muốn biết rõ sự tình, ngay tức khắc. Thử thiên cơ bất khả lộ nữa coi, tôi câu lưu các ông liền, chừng ấy thì tha hồ mà móc cái vấn đề liên bang nghiêm trọng từ đít mấy ông ra mà ngửi.”

    Greer liếc nhìn Seitz. Seitz nhún vai chiếu lệ.

    “OK,” Greer nói. “Bọn tôi cho ông biết cũng được. Nhưng là trên đường ra sân bay. Ông có thể đi cùng bọn tôi.”

    “Thuộc cấp của tôi đang ở sân bay ư?” Baker hỏi.

    “Một người thôi,” Greer nói. “Người mà ông nên quan tâm ấy.”



    CON KIA, VỚI Monica sau tay lái, đang phi về hướng bắc Le Jeune Road với vận tốc 128km/h, gần gấp đôi tốc độ qui định. Monica bấm còi như ma làm và sổ toẹt mọi thể loại tín hiệu giao thông. Matt ngồi cạnh cô với hai bàn chân như được đóng cứng trên sàn, cố làm mặt lạnh dù đang sợ chết khiếp. Dưới băng sau, Nina đang chắp tay cầu nguyện bằng tiếng Tây Ban Nha, trong khi Anna run rẩy trong từng tiếng nấc. Eliot đánh bạo choàng tay lên vai nàng, tự hỏi liệu có phải mình đang thừa nước đục thả câu không.

    “Con bé sẽ ổn thôi mà,” anh cố trấn an nàng.

    “Anh không biết đâu,” Anna rấm rứt nói. “Tại anh chưa thấy thằng đó đấy thôi, nó ... nó ...” Anna cạn lời, tưởng tượng thằng Snake đang đặt bàn tay của nó lên Jenny.

    “Tụi nó không đi xa được đâu,” Eliot nói, cảm thấy áy náy khi một phần não bộ anh đang thừa nhận rằng thật thích khi được choàng vai nàng. “Mình ở thành phố kia mà,” anh nói tiếp, “cảnh sát có mặt khắp nơi.”

    “Ảnh nói đúng,” Monica tiếp lời, ôm cua rộng để vượt mặt một chiếc buýt. “Cộng sự của tôi sẽ báo cáo, và tụi nó sẽ bị tóm gọn ngay cái lúc đặt chân đến sân bay.” Cũng mong là vậy, cô nói thêm với chính mình. Cô tự hỏi liệu mình có quá tự tin về việc Walter có thể tự giải thoát, hoặc đáng ra cô nên tự mình phôn về sở. Cô cũng tự hỏi liệu mình có đúng về vụ sân bay không.

    “Có ai đem điện thoại di động không?” cô hỏi.

    “Tôi có, nhưng không cầm theo,” Anna nói. “Chi vậy?”

    “Thôi khỏi,” Monica nói. “Đằng nào cũng gần đến sân bay rồi. Mình có thể phôn từ ... bà mẹ nó.”

    Giao thông phía trước đang tắc nghẽn. Bà con nháo nhác ra khỏi xe, kiễng chân rướn cổ tìm hiểu nguyên nhân kẹt. Có khứa còn trèo lên mui xe để quan sát cho dễ. Ở trước nữa, giữa khoảng trống của những xe cộ, một hình thù thấp và đen sì thoắt ẩn thoắt hiện, và một người đàn ông đang hớt hải rượt theo nó.

    Matt cất lời, Đó là một con dê?”



    CHIẾC XE TUẦN tiễu chậm rãi lăn bánh giữa dòng xe cộ trên lòng đường cạnh nhà ga Sân Bay Quốc Tế Miami. Snake cố đọc hiểu những biển thông báo với hàng loạt tên gọi hàng không bí hiểm – TAM, LTU, Iberia, KLM, BWIA, Lacsa – không gì trong số đó gợi lên chút manh mối nào, ít nhất là với Snake, về nơi mà bọn chúng sẽ đến.

    Snake nhác thấy một đoạn lề đường trống trải ở phía trái, cạnh bên một gara đang thi công. Công trình này đáng lý phải được hoàn thành từ một năm trước, song le nhà thầu của nó lại là Pennultimate, Inc., nên chẳng lạ khi tiến độ thi công kéo dài mút chỉ và chi phí đội lên chót vót. Nguyên do là những mảng miếng của công trình – Pennultimate đổ lỗi cho các nhà thầu phụ tắc trách – cứ lụi đụi rớt miết. Lối vào gara bị phong tỏa bởi những ba-ri cũng do Pennultimate cung cấp nốt, với giá mỗi ba-ri cao gấp ba lần so với giá ngoài thị trường.

    “Tấp vô kia,” Snake biểu Eddie, chỉ về phía lối vào gara.

    Eddie tấp xe đến trước một ba-ri. Nó ngoái cổ nhìn Snake dò hỏi.

    “Còn ngó cái gì nữa, dẹp cái đó rồi lái vô trong coi,” Snake nói.

    Còn hơi sức nào tranh cãi với Snake, Eddie dời chỗ ba-ri, cho chiếc xe tuần tiễu vào trong cái ga-ra dang dở thiếu sáng, rồi nghĩ sao đó nó bỗng mở cửa chui ra khỏi xe. Trong một khoảnh khắc khi đứng đó, nó đã tính chạy luôn, ý nghĩ đó vụt biến khi nó bắt gặp ánh mắt Snake đang chĩa vào mình qua cửa sổ hậu. Nó ngán ngẩm trở vô xe.

    “Đưa tao cái áo nỉ của mày coi,” Snake nói.

    Eddie toan nói gì đó rồi lại thôi, quày quả cởi áo nỉ của nó ra. Chiếc áo xanh thưở nào nay tuyền một màu bụi than, dưới đó là cái áo thun một thời màu trắng, nay là màu gì không thể gọi tên. Nó đưa cái áo nỉ cho Snake, Snake phủ cái áo lên khẩu súng đang nắm trong bàn tay phải. Với bàn tay trái, nó ấn đầu Jenny xuống cho tới khi cặp mắt cô ngang hàng với họng súng.

    “Em bé thấy khẩu súng này chứ?” nó hỏi.

    Jenny gật đầu.

    “Ra khỏi xe là nó sẽ thường trực chĩa vô bé. Bé làm gì ngu xuẩn, bất cứ gì, anh đục lỗ trên người bé liền. OK? Rõ chưa?” Nó bấm mạnh vào gáy cô.

    Jenny nhăn nhó gật đầu.

    “Giỏi lắm bé ngoan,” Snake hỉ hả.
     
  12. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    MƯỜI




    “Tôi đang nghe đây,” Baker lên tiếng từ băng sau một chiếc xe thuê. Lầm lì như một cặp quạ ở mặt trước là Seitz và Greer, Seitz cầm lái.

    “OK,” Greer nói, “bởi ông là cảnh sát và lính của ông trót dính vô vụ này, nên tôi sẽ cho ông biết. Nhưng sau đó tôi buộc phải thủ tiêu ông.”

    “Ha ha,” Baker mỉa.

    “Ờ, ha ha,” Greer nháy mắt với Seitz. “Dù sao, thứ chúng tôi đang tìm là một cái va-li, bằng kim khí, tương đối nặng.”

    “Nó thì liên quan gì đến nhà Herk?” Baker hỏi.

    “Bọn tôi nghĩ cái va-li ở đó vào tối nay. Hai thằng cô hồn đã mang nó đi và nhiều khả năng chúng đang ra sân bay, cùng hai con tin, một trong số đó là ái nữ nhà Herk. Và chúng đang đi trên một chiếc xe cảnh sát, chắc vậy.”

    “Gì cơ?” Baker tròn mắt. “Thế còn các cảnh sát?”

    “Một người, tôi nghĩ tên cô ấy là Monica, hiện đang ra sân bay trong một chiếc xe của dân, đi chung với dân luôn,” Greer nói.

    “Trời đất,” Baker vỗ trán. “Còn người kia?”

    “Người kia ở lại nhà Herk, bị còng vào một cái kệ audio, cái kệ thì bị còng vào Arthur Herk.”

    Baker chồm lên và nắm lấy vai Greer. “Đừng nói là,” ông nói, “chúng ta bỏ rơi một sĩ quan cảnh sát đang lâm nạn?”

    “Đừng nóng,” Greer chắt lưỡi, gỡ tay Baker ra. “Anh ta ổn. Không đi đâu được, nhưng còn khỏe ru, và anh ta đang giúp chính quyền liên bang bằng việc giữ chân một đối tượng tình nghi buôn lậu vũ khí.”

    “Vũ khí?” Baker nhíu mày. “Đó là thứ trong va-li?”

    “Chúng tôi nghĩ vậy,” Greer nói.

    “Ý ông là súng?” Baker hỏi.

    “Súng được cũng mừng,” Seitz chép miệng.

    “Thú thực với ông,” Greer tiếp lời, “bọn tôi không dám cả quyết trong va-li đó có gì. Nhưng bọn tôi có một suy đoán rất có cơ sở mà rủi nó đúng, thì sống chết gì cũng phải mau mau lấy được nó, trước khi có thằng ngu nào đốc chứng nghịch bậy.”

    “Nghe như nó đã rơi vào tay bọn ngu nào rồi,” Baker bình luận.

    “Thì bởi,” Greer nói, “thế nên bọn tôi mới hi vọng đây là một cái va-li khác. Nhưng tôi không nghĩ vậy.”

    “OK,” Baker nói, “cứ cho đúng là cái va-li ấy đi, rốt cuộc có thứ gì trong đó?”

    Greer xoay người lại trên ghế, nhìn thẳng vào mắt Baker.

    “Một thứ tệ hại,” y nói.

    “Tệ hại cỡ nào?” Baker hỏi.

    “Cực kì, cực kì tệ hại,” Greer nói.

    “Các ông có làm quá không đấy?” Baker phẩy tay. “Thì nó ở trong một cái va-li chứ gì, tệ là tệ đến đâu được? Có phải ta đang nói về bom hạt nhân đâu nào, đúng không?”

    Greer nhìn ông đăm đăm.

    “Đúng không?” Baker lại hỏi.

    Ánh mắt Greer lạnh như băng.

    “Hượm đã,” Baker chợt hạ giọng. “Đừng nói là ... Ông đang đùa thôi đúng không?” Ông đưa ánh mắt cầu cứu qua Seitz, “Ông ấy đang đùa thôi đúng không?”

    “Đùa được cũng đỡ,” Seitz thở dài.



    PUGGY THỞ PHÀO khi chiếc xe tuần tiễu sau rốt cũng ngừng hẳn. Những cú xóc nảy hà rầm, thêm việc phải chia sẻ chỗ nằm với cái va-li trong thùng xe nóng hầm hập khiến Puggy sây sẩm. Niềm vui thoáng qua khi nắp thùng được giở lên bị đánh bật tức khắc khi cái mặt thằng Snake hiện ra.

    “Thấy cái này chớ, thằng bú dù?” Snake hỏi, hươ hươ khẩu súng trước mặt Puggy.

    Puggy gật đầu, nghĩ bụng chưa gặp ai thích khoe súng như thằng này.

    “Tao để nó ngay dưới đây nghen,” Snake phủ cái áo nỉ của Eddie lên bàn tay cầm súng. “Nó chĩa vào mày suốt lượt. Trái lệnh tao, mày biết chuyện gì sẽ đến chớ?”

    Puggy lại gật đầu.

    “Chuyện gì sẽ đến, thằng bú dù? Nói coi. Nói coi chuyện gì sẽ đến.”

    “Ông sẽ bắn tui,” Puggy nói.

    “Chính xác,” Snake reo lên, cảm thấy tâm đắc với màn đối thoại ấy. “Tao sẽ bắn mày. Giờ trèo ra rồi xách va-li đi, lẹ!”



    TRÊN GHẾ TRƯỚC con Kia, Matt nhắm nghiền mắt. Dưới băng sau, Eliot vòng tay quanh Anna; trong khi Nina đang nhìn xuống hai bàn tay và lầm rầm cầu nguyện.

    Họ đang Bắc tiến trên làn xe Nam tiến trên Le Jeune Road. Đây không phải chuyện vô tiền khoáng hậu ở Miami, song cũng không tới nỗi thường tình, và bà con lái xe thuận chiều không mấy vui vẻ với chuyện đó. Gương mặt như hóa đá bởi sự tập trung cao độ, Monica trổ tài lạng lách đánh võng trước đàn xế đang ào ào lao đến, còi ré dồn dập nổ não. Ngay khi vừa băng qua hai cái xác nhàu nhĩ của chiếc bán tải và chiếc taxi, nơi hai bác tài đang chửi nhau bằng hai ngôn ngữ khác nhau, Monica đánh lút vô lăng sang phải, con Kia cưỡi lên một dải phân cách thấp và xẹt như sao chổi qua ba làn xe, vào đến đoạn đường cửa ngõ sân bay.

    “Đừng méc ai nhen,” Monica bỏ nhỏ.

    “Em có thấy gì đâu,” Matt nói, mà nó nói thiệt.



    “TIN NỔI KHÔNG trời,” Henry nói, đánh tay chạch chạch lên vô-lăng. Phía trước chiếc xe thuê, và giờ ở cả phía sau nó, xe cộ trên Le Jeune Road nằm rũ la liệt như những con ruồi mắc bẫy.

    “Thấy được gì không?” Leonard hỏi, căng mắt nhìn qua tấm kính chắn gió.

    “Hình như kẹt đâu trên chỗ mấy ánh đèn kia,” Henry nói. “Đang um xùm gì trên đó không biết. Để bật đài nghe thử.” Hắn bấm nút bật radio.

    ... nói nãy giờ không hiểu hả? Tôi đang nói là khi họ thua – không chỉ trận này, không chỉ tối nay, mà là khi họ chơi và THUA – bọn Cá Sấu Mỹ im hơi lặng tiếng hết.

    Nữa, ông mới không chịu nghe. Tôi đang nói nhân danh một Cá Sấu Mỹ đây, và tôi đang gọi điện cho ông đây, OK? Tôi đang nói chuyện trên điện thoại ...

    Thở ra một tiếng nẫu ruột, Henry bấm tắt radio.

    Đằng sau chúng là tiếng còi xe inh ỏi. Đằng trước chúng là tiếng la hét rần rần. Thốt nhiên, một hình thù thấp và đen nhẻm vụt ngang qua xe chúng.

    “Làm ơn đừng nói tao vừa nhìn thấy cái đó,” Leonard ú ớ. “Làm ơn đừng nói tao vừa nhìn thấy một con dê khốn kiếp.”



    “OK, ÔNG HERK,” Walter nói. “Ta cần phải hợp tác, cần phải kéo thứ này từ nhà ra đường cái, OK? Đó là cách duy nhất để cứu chúng ta. OK? Ông Herk?”

    Arthur lừ đừ đưa mắt từ Roger sang Walter. Hai mắt lão lúc này chỉ toàn tròng đen; đờm dãi lênh láng trên cằm lão.

    “Nói bả hãy để tôi yên,” lão rên rỉ.

    “Nghe tôi này,” Walter nói. “Ông cần phải nghe tôi. Đó là một con chó, OK? Một con chó. Và ta dám ở đây nguyên đêm lắm, nếu ông không ...”

    “Nói bả hãy để tôi yên.”

    “Nghe này,” Walter van vỉ, “ta cần phải ...”

    “NÓI BẢ HÃY ĐỂ TÔI YÊN!” Arthur hét lên.

    Walter lờ mờ nhận ra, để Arthur chịu giúp thì chỉ còn nước phải chơi nhập vai với lão. Hắn thở dài, đoạn ngúc ngoắc một ngón tay về phía Roger và nói, “Hãy để ông ấy yên.”

    Roger khấp khởi ngóc đầu lên, phỏng chừng Walter gọi đến để cho ăn.

    “Ông phải gọi tên bả, bả mới chịu,” Arthur nói.

    “Lạy Chúa,” Walter quệt mồ hôi.

    “TÊN CỦA BẢ ĐÓ!” Arthur hét.

    Walter thở dài, đoạn nói với Roger, “Hãy để ông ấy yên đi, Bà Dole!”

    Sung sướng vì được chú ý, Roger cấp kì chạy lại và nhảy phóc lên người Walter, cấu hai chân trước vào ngực hắn.

    “BẢ MUỐN LẤY HỒN ÔNG RỒI!” Arthur rú lên.

    “Xuống mau!” Walter la hoảng. “Xuống mau, Bà Dole!”



    “MỘT QUẢ BOM hạt nhân? Trong một cái va-li?” Harvey Baker thốt lên.

    “Phải,” Greer nói.

    “Tôi tưởng bom hạt nhân phải to lắm chứ,” Baker nhớ lại đoạn phim thời sự cũ về quả bom Hiroshima, trông nó như một chiếc tàu ngầm nhỏ.

    “Đâu phải cái nào cũng vậy,” Greer nói.

    “Quỷ thần ơi,” Baker xoa mặt. “Nó từ đâu ra? Nó làm quái gì ở đây chứ?”

    “Kể hết chắc tới sáng,” Greer nói. “Tôi sẽ cố tóm tắt. Ừm ... từ đâu ra hả? Từ Nga ra. Quốc gia này có những tên lửa hạt nhân còn sót lại từ Chiến Tranh Lạnh, OK? Lủ khủ tên lửa. Theo một hiệp ước mà tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết, người Nga có trách nhiệm giải trừ những quả tên lửa này, gọi là vô hiệu hóa ấy. Vấn đề là, có rất nhiều bộ phận trong một quả tên lửa – con quay hồi chuyển này, bộ chỉ báo vị trí này, máy gia tốc này ...”

    “Gia tốc kế chứ,” Seitz chỉnh lại.

    “Thứ lỗi cho tôi, ngài Wernher von Braun,” Greer cười lạt. “Dù sao, những bộ phận này hết sức cần thiết nếu ông là một tay anh chị quốc tế tép riu, như Saddam Hussein, tìm cách sở hữu tên lửa hạt nhân để vươn mình thành một tay anh chị quốc tế sừng sỏ. Kiểu như có được Cửu Âm Chân Kinh vậy đó. Rất nhiều kẻ thèm khát các bộ phận ấy.”

    “Thế chính phủ Nga không có, ờ, biện pháp kiểm soát chúng ư?” Baker hỏi.

    “Họ có chớ,” Greer cười nhạt. “Cũng như cách Miami kiểm soát tụi thanh tra xây dựng khỏi ăn hối lộ vậy đó.”

    “Chuyện đó khác,” Baker xua tay. “Ba cái trò tháu cáy đó nói chi. Ông đang nói về tên lửa hạt nhân kia mà.”

    Seitz khịt mũi. “Khác mỗi chuyện tiền nhiều tiền ít thôi ông ơi.”

    “Dù sao,” Greer tiếp tục, “bộ phận đáng sợ nhất của một quả tên lửa, cố nhiên là đầu đạn, thứ sẽ phát nổ ấy. Và người Nga để mắt đến chúng tương đối chặt.”

    “Tương đối chặt ư?” Baker hỏi.

    “Ừ,” Greer chép miệng. “Nói cách khác, là không đủ chặt. Tầm hai năm trước, một thằng nào đó đã vớ được hai đầu đạn, chúng tôi vẫn không biết nó làm bằng cách nào, từ một cơ sở tháo dỡ tên lửa ở nơi có tên là, ừm ...”

    “Sergeyev Posad,” Seitz nói. “Không xa Moscow lắm. Tên cũ là Zagorsk. Có những nhà thờ rất đẹp.”

    “Cảm ơn ngài Michelin,” Greer nói. “Vậy là, thằng này sở hữu những đầu đạn tên lửa, những thứ sau đó biệt tăm biệt tích, không ai biết ở chân trời góc bể nào. Rồi đùng cái, một em xuất hiện ở – đoán coi ở đâu – vùng Trung Đông, chính xác là Jordan.”

    “Trời,” Baker nói.

    “Phải đó,” Greer gật gù. “Chỉ có điều bấy giờ, cái đầu đạn đã được độ lại bởi một kẻ lành nghề. Giờ thì nó được cất trong một va-li bằng kim khí. Một gã khỏe mạnh có thể mang nó. Ông đặt nó ở đâu đó, cài hẹn giờ kích nổ. Tới đúng giờ là bùm, cả trung tâm thành phố được dọn sạch trong tích tắc. Khiến Oklahoma City trông như một lễ hội pháo hoa.”

    “Từ một thứ to bằng cái va-li ư?” Baker hỏi.

    “Bộ phận cốt tử của đầu đạn nhỏ hơn nhiều so với một cái va-li,” Greer nói. “Nhìn nó hơi giống cái máy nghiền rác nhà bếp. Cái va-li nặng là nặng ở chỗ thuốc nổ thông thường để kích hoạt đầu đạn ấy. Thuốc nổ được kích hoạt bởi một kíp nổ có chế độ hẹn giờ, vốn chả phải thứ ghê gớm gì, ra cửa hàng điện tử kêu cái là có à. Nhưng coi nhỏ mà có võ nghen, mà không phải võ thường, anh bạn này mà gầm một cái là mọi nhà lầu thành đất cát hết. Nó có thể chiên giòn hai đồng tử của ông từ khoảng cách mười dặm.”

    “Và theo lời ông, cái va-li còn lại đang ở đây, tại Miami?” Baker hỏi.

    “Điều tôi đang nói là,” Greer nói, “khi họ tìm thấy đầu đạn thứ nhất trong một cái va-li, nó nằm trong tay những kẻ không phải fan cứng của Hoa Kỳ. Bọn này đã bị bắt nhốt.”

    “Bởi ai?” Baker hỏi.

    “Chuyện đó thì tôi không thể cho ông biết,” Greer lắc đầu, “trừ việc họ không mất nhiều thì giờ để tư vấn cho nghi phạm về những quyền Miranda của chúng.”

    “Bọn Israel,” Baker nói.

    Greer gật đầu. “Nói rồi, tôi không thể cho ông biết,” y tiếp lời, “Chỉ nói sơ là bọn họ cực giỏi trong việc cạy miệng những thằng không thích nói chuyện. Và thông tin họ lấy được là cái va-li còn lại sẽ du hành đến New York City, nơi nó sẽ được tiếp nhận bởi một Tín Đồ Đích Thực. Thằng này sẽ bày tỏ đức tin của mình bằng cách biến Quảng Trường Thời Đại và khu vực lân cận thành bụi phóng xạ.”

    “Cũng không phải tổn thất quá lớn,” Baker bình luận.

    “Ầy, nó coi được hơn nhiều rồi,” Seitz nói. “Người ta mới trùng tu đó ông.”

    “Dù sao,” Greer hắng giọng, “kẹt cái là bọn tôi vẫn chưa biết khi nào và bằng cách nào cái va-li đến được New York. Song thằng Tín Đồ Đích Thực thì bọn tôi biết, và đã giám sát nó kĩ lưỡng. Nó đã nằm trong rọ rồi. Ngày nó địt mấy lần bọn tôi cũng biết. Thành thử khi nó đang trên taxi ra sân bay Kennedy, cố nhiên bọn tôi đang canh me nó. Ấy vậy mà, đoán coi, một thằng Mật Vụ ngu dốt từ một cơ quan liên bang tôi không tiện nêu tên ở đây, trừ việc nó được viết tắt là C, I, và A ...”

    “Cái tụi đéo có quyền hạn gì ở đây,” Seitz lưu ý.

    “... vốn dĩ, như Rehnquist Công Lý vừa nêu, đéo có quyền hạn gì ở đây,” Greer nói. “Tụi đầu bò đó lại còn, tẩm ngẩm tầm ngầm, theo dõi thằng Tín Đồ Đích Thực nữa mới chết. Chúng nghĩ nó sắp cao chạy xa bay khỏi đất nước. Thế là, trên đoạn đường vào sân bay Kennedy, chúng ép chiếc taxi lên lề, rồi bắt giữ thằng đó nhân danh thứ chúng gọi là Hoạt Động Mật.”

    “Cũng mật như văn nghệ giờ giải lao trận Super Bowl,” Seitz phụ họa.

    “Vậy là bọn tôi ở đó,” Greer chắt lưỡi, “đần mặt ngó ra từ cái nhà ga sân bay trời đánh, cố kiềm chế để không bắn bỏ tụi chọc gậy bánh xe đúng ra phải ở phe mình ấy. Và cố nhiên giờ thì Tín Đồ Đích Thực hết cửa chỉ đường chỉ chỗ. Bọn tôi lùng sục khắp cửa đến sân bay, cóc thấy gì. Tôi đoán dù thằng nào cầm va-li nó cũng đã thấy có động, mà động nào vô đây ngoài mấy cha Mật Vụ nữa, nên chắc mẩm nó đã đánh bài chuồn. Bọn tôi rà soát xung quanh, đồ rằng nó đã bắt taxi từ Kennedy đến La Guardia, nhảy lên một chiếc máy bay, phới khỏi New Yor để tới ... bọn tôi nghĩ là Atlanta hoặc nơi này.”

    “Hoặc Houston hoặc New Orleans,” Seitz tiếp lời.

    “Hoặc mấy chỗ đó,” Greer đồng ý.

    “Khoanh vùng tốt gớm,” Baker nhận xét.

    “Ô hay,” Greer chắt lưỡi, “Bọn tôi chỉ có một mô tả hết sức mơ hồ. Chính xác thì bọn tôi có gì hả ông? “Đó là một thằng xách va-li, hết.” Song bọn tôi đã tích cực dò la chỗ này chỗ nọ, và nghe ngóng được từ nhiều nguồn khác nhau, rằng thằng này đang sợ. Nó chỉ muốn tống quách cái của nợ đó đi và kiếm đủ tiền để về với vùng đất thánh của nó. Điều bọn tôi nghĩ nó làm là, nó đã bán rẻ cái va-li cho một tụi buôn lậu khí giới nào đó, tụi này thường chỉ buôn súng máy các thứ.”

    “Chúng rinh bom hạt nhân về để tế mồ tế mả gì chứ?” Baker thắc mắc.

    “Tôi nghĩ chúng cũng không biết rõ mình mua gì,” Greer nói. “Vì theo dấu vết xa nhất mà bọn tôi lần được, chúng đã bán nó cho một tụi khác, đến lượt tụi này bán nó cho mấy gã đang điều hành một cơ sở ở đây có tên là Jolly Jackal.”

    “Cái quán bar đó hả?” Baker trố mắt.

    “Cái quán bar đó,” Greer cười khẩy, “trữ nhiều AK-47 hơn Budweiser đó ông.”

    “Ôi trời,” Baker lắc đầu. “Cái thành phố này.”

    “Có điều là,” Greer hắng giọng, “bọn tôi có thể sai về tất cả chuyện này. Đây có thể là một cái va-li khác, không liên quan. Có thể là thuốc phiện, có thể là tiền giả. Vẫn có người đang truy tìm ở Atlanta, Houston, New Orleans, vài nơi khác nữa. Nhưng xét theo cuộc trao đổi chiều nay giữa chúng tôi và người quản lí quán Jolly Jackal ...”

    “Người còn lâu nữa mới được quản lí thứ gì đó,” Seitz lưu ý.

    “Ừ, còn lâu,” Greer đồng tình. “Dù sao, căn cứ theo cuộc trao đổi với hắn, bọn tôi nghĩ đây chính là cái va-li cần tìm, và nó đang trên đường đến MIA cùng tụi cô hồn địa phương kia.”

    Baker nhích về sau băng ghế và ngó đăm đăm ra cửa sổ một hồi. Đoạn ông lại chồm tới trước và nói, “Có chỗ này tôi hơi thắc mắc.”

    “Để tôi đoán nghen,” Greer nói. “Ông đang thắc mắc vì lẽ gì, nếu đoán được cái va-li rất có thể đang ở đây, tại sao bọn tôi không báo với cảnh sát, loan tin lu loa lên, sơ tán người dân các thứ. Phải vậy không?”

    “Đại khái thế,” Baker nói.

    “Có một số lí do,” Greer nói. “Một, tụi cô hồn này không biết, song bọn tôi đã ghìm chân chúng ở sân bay rồi.”

    “Ý ông là sao?” Baker nhíu mày.

    “Ý tôi là,” Greer nói, “ngay trước khi chạm trán ông, tôi đã gọi một cuốc điện thoại.” Y giơ lên một thứ mà Baker trông như một chiếc điện thoại di động, trừ việc nó dày như cục gạch, chĩa ra một ăng-ten ngắn và múp rụp. “Cho đến khi chúng tôi nói khác đi, không máy bay nào có thể cất cánh từ MIA. Không có thông báo nào hết; hành khách vẫn lên máy bay như thường, nhưng sẽ không chiếc nào nhận được huấn lệnh cất cánh.”

    “Các ông làm được chuyện đó sao?” Baker hỏi.

    “Làm tới đâu nữa kìa,” Greer bình thản đáp. “Tóm lại, bọn tôi đã đóng chai chúng rồi.”

    “Đã vậy sao ông không cho sơ tán khu vực quanh sân bay luôn đi?” Baker hỏi.

    “Đó là lí do thứ hai,” Greer nói. “Thử nghĩ xem. Nếu tin tức lan truyền, mà chạy đường nào khỏi, rằng có một quả bom hạt nhân thứ thiệt ngay giữa khu trung tâm, ông liệu coi cái thành phố này sẽ ra sao? Một cuộc di tản có trật tự? Phụ nữ và trẻ em đi trước? Bà con ai nấy bỗng bình tĩnh lạ lùng? Ông nghĩ đó là cách người dân Miami sẽ phản ứng?”

    Baker mím môi suy nghĩ.

    “Nói ông nghe chuyện gì sẽ xảy ra,” Greer tiếp, “ấy là mọi thằng ngu có súng trong thành phố, nghĩa là mọi thằng ngu, sẽ rần rần xách súng, nhảy vào ô tô của nó hoặc của thằng khác, và phóng như ma đuổi ra xa lộ I-95. Nội mười phút thôi là tắc đường trên diện rộng chắc, và điều diễn ra tiếp theo sẽ khiến ông thấy Iwo Jima như đang có hội hè vậy. Cả thành phố này rồi sẽ như hồi kết tiểu thuyết của Stephen King.”

    “Cũng có lý,” Baker gật đầu.

    “Ba là,” Greer nói, “nếu tin tức về thứ bên trong va-li truyền ra, làm gì mà nó chả đến tai của bọn ngu đang giữ va-li. Chừng nào chúng chưa biết chúng đang có gì, như lúc này đây, chúng còn chưa nghĩ đến việc dùng nó như một con bài mặc cả.”

    “Bộ tụi nó biết cách khởi động ư?” Baker hỏi. “Chẳng lẽ nó không có thứ gì kiểu như, ờ, chế độ an toàn ấy?”

    “Của nợ này không được chế tạo bởi người thiện lương,” Greer thở dài. “Không như phim đâu ông, gì mà tổng thống phải đọc mật mã rồi hai thằng cận vệ thân tín phải xoay các chìa khóa cùng lúc. Nó được làm ra bởi lũ mặt người dạ thú muốn gài nó ở nơi công cộng, trong một đô thị đông đúc và kích hoạt nó nhanh nhất có thể. Cái va-li này thì bọn tôi chưa dám chắc, nhưng còn cái đã tịch thu kia, dễ ợt hà. Ông chỉ cần mở nó ra, rồi bật ba công tắc điện, và chế độ hẹn giờ bốn lăm phút bắt đầu.”

    “Bốn lăm phút ư?” Baker nói.

    “Bốn lăm,” Greer gật đầu. “Đủ thời gian để Tín Đồ Đích Thực nhảy lên tàu điện ngầm, lên đến khu Bronx, hướng về phía bắc, vào thời điểm nó phát nổ.”

    “Và bây giờ nó đang ở đây,” Baker xoa trán, đăm chiêu ngó ra cửa sổ.

    “Dám lắm,” Greer nói.

    “Trời ạ,” Baker lắc đầu. “Coi phim thấy mấy vụ kiểu này mình hay kêu nó dóc, nhưng tôi đoán sớm muộn gì cũng có kẻ làm thật.”

    Seitz khịt mũi.

    “Sao hả?” Baker hỏi.

    “Bộ ông nghĩ đây là lần đầu ư?” Seitz khinh khỉnh.

    Không phải sao?” Baker trố mắt.

    Seitz lại khịt mũi.

    “Ầy, lần bao nhiêu kệ đi,” Greer xua tay. “Giờ mới cần nghe kĩ nè. Tôi hao hơi tổn tiếng kể với ông những điều này là bởi, như đã nói, ông là cảnh sát và lính của ông trót liên can. Nhưng để tôi nói thêm, khi bọn tôi tóm được tụi cô hồn đó, bọn tôi sẽ hốt chúng, hốt cái va-li, và biến đi như chưa bao giờ đến. Hết chuyện, theo như những gì ông biết, nghe thủng chứ?”

    “Nghĩa là sao?” Baker hỏi.

    “Nghĩa là,” Greer nghiêm giọng, “đối với chính quyền liên bang – và tôi đang nói đến chính quyền liên bang ở cấp độ trên muôn loài ấy – thì sự vụ này không hề xảy ra. Nhớ nghen. Không có bom hạt nhân nào ở Miami. Không có bất cứ quả bom nào trong bất cứ cái va-li nào ở bất cứ nơi nào trên vùng đất vĩ đại của chúng ta. Bởi chỉ cần các con dân khởi sự nghĩ về điều đó thôi, ta sẽ có sự hỗn loạn kinh khiếp – thiên hạ sẽ tháo chạy đến Montana, tích trữ thực phẩm, hành quyết những gã râu xồm, bức tranh toàn cảnh đó. Kinh tế trôi ùng ục xuống bồn cầu, nền văn minh sụp đổ, hết phim. Nên tóm lại, chuyện này không hề xảy ra. Rõ chưa? Bất cứ chuyện gì đã xảy ra, nó đều không hề xảy ra.

    Baker cự nự, “Nhưng tôi còn phải phúc trình ...”

    “Phúc cái con khỉ,” Greer đanh giọng. “Ông mà khơi lại bất cứ gì về vụ này, Đặc Vụ Seitz và tôi, được hậu thuẫn bởi gần như toàn bộ chính quyền liên bang, sẽ chối bay chối biến ngay. Cứ thử thúc đẩy coi, tụi này thúc lại cho biết, mà không phải thúc vừa đâu. Nát đít đấy. Đừng nghĩ tôi ghét gì ông tội nghiệp, bởi theo tôi thấy thì ông là một cảnh sát tốt, nhưng tụi này vẫn cứ chơi cho ông mạt như thường. Đến nỗi ông có muốn xin đi canh mấy cái cầu tiêu lưu động cũng khó nữa kìa.”

    Baker xịch lui trên băng ghế, lại thẫn thờ nhìn cửa sổ. Ông rụt rè hỏi, “À còn chuyện ông nói lúc nãy, về việc sau khi kể xong ông phải ... thủ tiêu tôi ấy ...”

    Greer ngoái cổ nhìn ông. “Chuyện đó thì sao?”

    Baker ấp úng, “Cái đó ... là nói đùa phải ha?”

    Greer lại ngó ra trước. “Giao thông coi bộ xấu,” y lầm bầm.
     
  13. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    MƯỜI MỘT




    Đến dân đi máy bay sành sõi nhất cũng dễ loạn phương hướng với Phi Trường Quốc Tế Miami. Biển người cuồn cuộn sóng sau dồn sóng trước, và hình như nó được thiết kế cốt sao cho tất thảy hành khách, dù muốn ra hay muốn vô, đều buộc phải thúc chỏ vào nhau. Nhà ga chính là sự kết hợp giữa một hội chợ quốc tế và trại tị nạn. Đủ các nhóm người tứ xứ hội tụ – các nhóm du lịch theo đoàn, đám học sinh đi dã ngoại, các ban nhạc salsa, các đội bóng đá, những đại gia đình – tất cả đang ngắc ngoải chờ những chuyến bay sẽ không khởi hành trong vài giờ, có khi là vài ngày nữa. Ghế ít mà đít thì đông, nên bà con đành nằm lăn lóc vạ vật trên mấy tấm thảm hôi rình, bao quanh là đống hành lí chất cao như chân đồi Appalachian, gồm các va-li cỡ đại chỉ chực bung ra vì nhét ráng, cùng búa xua những hàng tiêu dùng mua ở Nam Florida để chuyển ngược lại Nam Mỹ như TV, loa, đồ chơi, đồ gia dụng và lốp xe nguyên bộ. Nhiều món đồ kể trên được gói lại thành những vỏ kén plastic xanh xanh để phòng ngừa chôm chỉa, đó là một trong những ngành kỹ nghệ chính yếu ở phi trường, cùng một thứ khác gọi là “những cải tiến” không ngừng – chủ yếu là việc lắp đặt những biển báo mà ở đó, họ cầu xin công chúng lượng thứ cho những bất tiện trong thời gian cải tiến phi trường.

    Phi trường hoăng một mùi nhiệt đới ẩm và rữa mốc, và được lấp đầy bởi muôn vàn các thứ tiếng – Tây Ban Nha, Pháp, Italy, và, om sòm nhất: đám Hành Khách Tàu Du Lịch. Các nhà du hành vừa đến bao giờ cũng tươi rói trong những bộ cánh phượt mới nhất, xăng xái sắp hàng hàng đi theo tụi hướng dẫn viên tay giơ cao những tấm bảng đề tên hãng. Họ chuyện trò rôm rả về những chuyến hải trình khác đã từng kinh qua, cười hô hố mỗi khi ai đó kể chuyện hài – cứ cách bốn lăm giây là sẽ có người kể chuyện hài – này họ đã uống bạo ra sao, này đã cờ bạc, mua sắm tẹt ga thế nào. Các nhà du hành trên đường về lại toát lên vẻ lặc lè nhẫn nhục – họ mệt mỏi, cháy nắng, say xẩm, bụng trương sình lên vì phải ráng nuốt hết mười một bữa ăn trong ngày bất chấp có đói hay không, bởi lẽ ... có trong gói hết mà, bỏ uổng! Nhiều phụ nữ còn hứng chí tết tóc bím rồi đính cườm lựu hà rầm lên đó, đâu biết kiểu này chỉ hạp với mấy bé gái vùng Ca-ri-bê thôi, còn với đa phần phụ nữ trên mười sáu, chỉ khiến các nàng trông vừa khôi hài vừa đáng sợ. Bạn thấy những hành khách khệ nệ bê các tác phẩm “nghệ thuật dân gian” sản xuất đại trà – dễ thấy nhất là mấy khúc gỗ to đùng, kém thẩm mỹ và hoàn toàn vô dụng, và làm sao thiếu các thùng đựng chiến lợi phẩm lớn nhất mà họ thu được qua cuộc hải trình: rượu giảm giá! Hơi sức nào bận tâm đã ném bao nhiêu nghìn đô vào kỳ nghỉ này: Họ cười tít mắt vì lẽ đã tiết kiệm được mười đô cho một chai scotch và brandy và rượu mùi mà mình sẽ chẳng bao giờ nhấp môi tới, xách linh khinh lang khang ra sân bay, từ máy bay này qua máy bay khác, mong ngóng ngày về đặng có thể lôi chiến quả đó ra khoe với khách khứa đến chơi nhà trong những năm tháng sắp tới (“Chai này ở Virgin Islands có hai mươi ba đô rưỡi à! Biết ở đây nó bán nhiêu hông?”)

    Vào cái đêm mà Snake và bầu đoàn của nó kéo vào với trái bom hạt nhân, phi trường còn bát nháo ác nữa. Chicago đang báo có thời tiết xấu, nên cố nhiên mọi chuyến bay đến Tây Bán Cầu, tính luôn việc phóng tàu con thoi, đều bị đình lại. Rồi giờ đến các hãng hàng không kêu trời vì máy bay của họ không nhận được huấn lệnh cất cánh, dù Đài Kiểm Soát Không Lưu chẳng công bố lý do nào. Rồng rắn trổ ra từ các quầy vé hàng không là những hành khách mặt mày hằm hằm, cố chen bằng được đến quầy vé để nói chuyện phải quấy với tụi nhân viên cũng đang sùng gan không kém. Cảnh sát vừa được triệu đến để gô cổ một hành khách tàu du lịch trên đường về, người đã đe dọa nhân viên bán vé với khúc gỗ lưu niệm của ông ta.

    Eddie qua cửa sân bay trước tiên, kế đến là Puggy xách va-li, rồi đến thằng Snake, một bàn tay giấu dưới áo nỉ và tay còn lại bấu riết cánh tay Jenny. Cũng như Eddie và Puggy, Snake chưa có dịp vào MIA lần nào, và trong một khoảnh khắc chứng kiến đám đông cuồng loạn, nó đã nghĩ đến việc quay đầu bỏ chạy. Nhưng rồi nó lại siết chặt con chó lửa, cây đũa phép của nó, và nỗi xáo động ấy tức khắc tiêu biến. Quay đầu về đi lụm tiền lẻ nữa chắc? Chết sướng hơn!

    “Ta đang đi đâu đây?” Eddie cất tiếng hỏi, ngơ ngác nhìn cảnh tượng sân bay. Nó chưa bao giờ có cảm giác lạc quẻ rõ rệt với nơi nào đến thế, mà Eddie vốn đã là cái đứa luôn cảm thấy lạc quẻ ở bất cứ nơi nào nó đặt chân đến.

    “Lối kia,” Snake chỉ tay hú họa về phía một dãy quầy vé. Nó chọc khẩu súng bọc áo nỉ vào lưng Puggy và hằm hè, “Cứ đi thủng thẳng, chớ có dang khỏi tao nửa bước.” Cả bọn lững thững di chuyển qua đám đông – đi đầu là Eddie, kế đến là Puggy xách va-li, xít rịt sau nó là Snake, bước khập khiễng bên cạnh Jenny, người đang kéo lê đôi chân trên sàn và mắt nhìn trừng trừng ra trước, in hệt một zombie. Hãng bay thứ nhất chúng ghé hỏi có cái tên Snake không đọc nổi, cùng danh sách các chuyến khởi hành đến những thành phố Snake chưa từng nghe tới; mấy đứa trực quầy đang nói rặt tiếng Tây Ban Nha. Snake hất đầu ra hiệu Eddie đi tiếp. Chúng bỏ lại thêm nửa tá hãng bay vẫn với những tên gọi mà Snake không thể cắt nghĩa, đoạn tốp lại ở một quầy vé nhỏ, với chỉ một nhân viên và lèo tèo ba bốn ngoe đang đứng chờ trong hàng. Trên quầy đặt một tấm biển màu cam, đề:


    AIR IMPACT!

    Cửa Ngõ Đến Bahamas Của Bạn

    Khởi Hành Theo Lịch Trình Hàng Ngày


    Một linh cảm tốt dậy lên trong Snake. Bahamas đây chứ đâu! Nó ra hiệu thằng Eddie bước vô hàng. Cả bọn tà tà di chuyển lên, Snake vẫn giữ tay Jenny và không quên nhắc nhớ Puggy về khẩu súng sau lưng nó. Sau mười phút, băng Snake đã đến trước mặt quầy.

    Nhân viên quầy là một bà mẹ đơn thân tên Sheila, người đã làm việc liên tục suốt mười bốn tiếng, bởi hai đồng nghiệp của nàng đã rủ nhau bỏ việc đúng ngày hôm đó. Air Impact! không mạnh trong chuyện giữ chân người làm của mình, bởi các phiếu lương của nó thường đến chậm như chính các chuyến bay của nó vậy, tức là chậm như rùa. Sở hữu Air Impact! là hai anh em đến từ Bắc Miami Beach, những người đã mần ăn rất khá trong lĩnh vực kiểm soát sâu bệnh. Họ lập hãng hàng không với mục đích lấy cớ đi công tác chính đáng để phới đến Bahamas, đánh bạc và ngủ với những phụ nữ trên giấy tờ không phải vợ họ. Hãng hàng không đã bước vào năm thứ hai hoạt động, và hai anh em càng ngày càng tập trung vào mục bù khú ở Bahamas, còn những mục làm ăn như lương bổng, lịch trình bay, hay chiêu mộ nhân viên có năng lực thì gần như bỏ thí.

    Cục Quản Lý Hàng Không Liên Bang bắt đầu lưu tâm đặc biệt đến Air Impact!, sau khi ghi nhận sự gia tăng đột biến những than phiền của hành khách về việc hoãn và hủy bay. Những cặp lông mày đã nhướn lên vào hai tuần trước, khi một chuyến bay Air Impact! từ Miami đến Nassau, dưới sự điều khiển của những phi công bị nghi xài bằng giả, trên thực tế đã hạ cánh xuống Key West, nơi khỏi cần là phi công cũng biết nó ở về hướng đối nghịch vài trăm dặm. Có lời đồn FAA đang rục rịch đóng cửa Air Impact!, và sĩ khí của những nhân viên chưa nghỉ việc đang xuống rất thấp. Riêng với Sheila thì nó đã chạm đáy; ngoài việc phải chôn chân cả ngày trời để đương đầu với những hành khách bất mãn, nàng lại vừa nhận được cú phôn từ cô giữ trẻ - người mà nàng lao đao lắm mới trả lương nổi - báo với nàng đứa con gái hai tuổi của nàng đang nôn thốc nôn tháo. Và giọt nước tràn ly là cú phôn từ thợ sửa xe, thông báo chiếc Taurus 1987 của nàng, thứ vốn luôn cần gì đó, đang cần đại tu bộ truyền số.

    Phải chi Sheila đang ở trong tâm trạng tốt hơn, nàng đã có thể quan tâm đúng mức đến bộ tứ trước quầy – một cô gái thất thần đứng cùng ba thằng người ngợm dơ dáy bẩn thỉu. Song Sheila đã đạt tới cảnh giới không màng đến thế tục nữa rồi.

    “Vâng?” nàng đưa mắt nhìn Snake.

    “Cho bốn vé đi Bahamas, một chiều, chuyến kế tiếp,” Snake nói.

    “Nassau hay Freeport?” cô hỏi.

    Snake nhíu mày. “Bahamas,” nó nói.

    “Nassau và Freeport nằm ở Bahamas,” Sheila nói, đồ ngu, nàng thầm bổ sung.

    Snake bặm môi suy nghĩ.

    “Freeport,” nó nói, nó thích âm thanh của từ đó.

    “Chuyến bay mười giờ mười,” Sheila nhìn đồng hồ, đang là chín giờ mười lăm. “Tổng cộng bốn vé một chiều là” – cô gõ gõ bàn phím máy tính – “ba trăm sáu mươi đô la.”

    Snake tạm buông Jenny để rảnh tay mò túi. Nó lôi ra xấp giấy bạc dày cộm đã tịch thu của Arthur Herk ở căn nhà, để hết lên quầy trước mặt Sheila, rồi vẫn với một tay, nó khởi sự đếm những tờ hai mươi đô bằng cách đọc ê a “... hai mươi, bốn mươi, sáu mươi ...” Tới 120, đầu óc nó trở nên mơ huyền – số học không phải thế mạnh của nó – và thế là phải đếm lại từ đầu. Nó đếm lại tới lần thứ hai, đoạn buột miệng “đ.mẹ” rồi hất xấp tiền khỏi quầy, mớ giấy bạc rơi qua bàn phím của Sheila.

    “Coi thử nhiêu đó đi,” nó bảo.

    Sheila sắp đống giấy bạc lại thành cọc, cảm nhận được sức nặng của nó, coi, đống tiền chù ụ này lại nằm trong túi một thằng dốt tới nỗi không biết cách đếm nó. Sheila bóc ra 360$. Thế rồi, khẽ đưa mắt liếc chừng Snake, kẻ đang nhìn quanh quất với vẻ lấm lét, nàng bóc thêm 480$ - chỗ nàng cần để đại tu bộ truyền số, rồi thêm 140$ - chỗ nàng thiếu nợ cô giữ trẻ tuần trước. Xong xuôi, nàng để chỗ bạc còn lại lên quầy. Snake sinh nghi, tính ý kiến ý cọt gì đó nhưng ngại rầy rà nên thôi. Với nó nghĩ mình vẫn còn rủng rẻng chán. Thêm cái va-li ma túy kia nữa chi. Mà hổng chừng là ngọc lục bảo.

    “Cho tôi xin họ tên hành khách,” Sheila vừa nói vừa gõ phím.

    Một thoáng ngần ngừ, rồi Snake nói, “John Smith.”

    Sheila ngước nhìn lên trong một giây, đoạn trở lại với bàn phím.

    “Các hành khách còn lại ạ?” nàng hỏi tiếp.

    “John Smith,” Snake nói.

    Sheila lại ngước lên, ngó lần lượt Eddie, Puggy, Snake và Jenny. “Bộ John Smith hết hả?” nàng hỏi.

    “Hết luôn,” Snake đáp.

    “Tôi cần xem giấy tờ tùy thân có ảnh,” Sheila nói.

    Snake huơ một nắm giấy bạc và thảy chúng qua bàn phím của nàng.

    “Giấy tờ đó,” nó hất hàm nói.

    Sheila nhìn xuống chỗ bạc. Coi, sương sương cũng hai trăm đô.

    “OK, của ông xong rồi, thưa ông Smith,” nàng tươi tỉnh nói.



    MONICA VỪA ẤN còi vừa cho con Kia vọt qua một trạm xe trung chuyển trên khúc đường vào sân bay.

    “OK, nghe này,” cô nói. “Ta đang tìm một xe cảnh sát. Ai thấy nó thì hô lên nghen?”

    “OK,” Matt và Eliot đồng thanh. Anna nín thinh. Nina đang cầu nguyện.

    “Ngay khi thấy cái xe,” Monica nói – bụng bảo dạ: lạy trời, làm ơn cho con thấy cái xe – “nếu không thấy ai trong đó, ta sẽ vào nhà ga để tìm. Sẽ có cảnh sát ở đó để giúp ta. Mọi chuyện sẽ ổn thôi, bà Herk.”

    Dưới băng sau, Anna vẫn câm lặng.

    Monica dậm ga cho con Kia leo lên khỏi đoạn dốc, đến dưới tấm biển Cửa Khởi Hành. Họ đang tiến chầm chậm vào nhà ga. Monica, Matt, và Eliot quét mắt vào rừng xe cộ trước mặt. Là Matt phát hiện ra chiếc xe tuần tiễu đang nằm trong một ga-ra dang dở.

    “Đằng kia,” nó chỉ tay.

    Monica rẽ trái vào ga-ra, phanh rít lại sau chiếc xe tuần tiễu. Cô đã ào khỏi con Kia trước khi nó ngừng rung lắc. Không thấy ai ở trong, cô đấm bốp vào cốp xe, quay phắt lại và co giò chạy, lách người thoăn thoắt giữa đám xe cộ lổn ngổn trên lòng đường vào nhà ga. Bám sát gót cô là Matt, tiếp đến là Eliot, đang cầm tay Anna.



    “NGÓ KHÔNG ỔN rồi,” Seitz làu bàu, giương mắt nhìn những ánh đèn phanh bất động rồi tắt ngúm phía trên hướng bắc Le Jeune Road.

    “Mặc may rẽ phải lên chỗ kia được,” Baker nói, “ông có thể bắc qua Douglas, rồi đi lên theo đường đó.”

    “Xem bố đó có chịu để tôi rẽ không đã,” Seitz chỉ về phía một con Humvee trên phần đường bên phải cạnh chiếc xe thuê của họ. Humvee khá thịnh ở Miami. Chúng đặc biệt được ưa chuộng trong giới đu-theo-xu-hướng thừa tiền dư bạc, thích diễu phố trong mấy con xe quân sự giả cầy, in hình đang chờ lệnh tấn công thành Baghdad. Trong con Humvee cạnh chiếc xe thuê của FBI là ba gã thanh niên đầu húi cua, đang giật giũ theo tiếng bass như sấm rền phát ra từ cái loa to bằng chuồng chó choán hết phần sau xe. Gã lái xe vừa nhận được con xế hai ngày trước như một quà mừng sinh nhật thứ mười chín từ ông già hắn, một nhà nhập khẩu cocaine thành đạt và đáng trọng trong vùng.

    Bọn Humvee không có vẻ gì nghe thấy tiếng còi của Seitz, Greer bèn hạ cửa sổ và phất tay kêu gọi sự chú ý của gã lái xe. Chặp hắn nhìn qua, Greer gập tay ra hiệu muốn ôm cua. Gã lái xe hạ cửa sổ; tức thì cả Greer, Seitz, Baker cùng nhăn mặt.


    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!

    Anh muốn cái sex pootie của em!


    Mắt hấp háy trước âm thanh như tiếng gào từ địa ngục, Greer ra dấu hiệu thỉnh cầu gã Humvee lui xe cho mình rẽ qua. Gã Humvee đáp lại Greer bằng dấu hiệu “đù má mày”, đoạn kéo cửa sổ lên và cười ngả nghiêng cùng các chiến hữu.

    “À, tuổi trẻ,” Greer chắt lưỡi.

    “Để tôi cho chúng xem huy hiệu nghen?” Baker đề nghị.

    “Khỏi,” Greer đáp gọn rồi chui ra khỏi xe.

    “Ông đã bao giờ nghe về Lệnh Hành Pháp Đặc Biệt 768 gạch ngang 4 chưa?” Seitz hỏi Baker.

    “Chưa hề,” Baker lắc đầu. “Nó là gì vậy?”

    “Thì cũng như thượng phương bảo kiếm ấy,” Seitz nói.

    Greer gõ gõ các đốt ngón tay của y lên cửa sổ chiếc Humvee. Gã lái xe ngó qua và thêm lần nữa chìa ngón giữa vào mặt Greer, rồi lại cười lăn lộn cùng chúng bạn. Các thanh niên ngừng cười khi Greer, với bàn tay phải, tọng báng súng của y xuyên qua cửa sổ, đoạn thọc tay trái vào túm lấy cổ áo chiếc sơ mi Tommy Hilfiger của gã lái xe, lôi xoành xoạch hắn từ cửa sổ xuống đường cái. Gã lái xe ụp hai bàn tay lên mặt đường, cấp kì chồm dậy và chạy xịt khói vào trong rừng xe cộ, không một lần nhìn lại. Hai thanh niên còn lại, ngó cái mửng giúp đỡ này hổng ham, tự giác nhấc đít khỏi ghế hành khách. Greer leo vào trong ghế tài, rút chiếc CD ra, tắt loa và cho con Humvee leo lên vỉa hè vào trong bãi đỗ một tiệm Burger King, dọn đường cho Seitz. Đoạn y leo khỏi con Humvee, thả cái CD xuống vỉa hè, đạp lên nó, rồi cất bước trở lại chiếc xe thuê.

    “Để tôi cho chúng xem huy hiệu cũng được mà,” Baker nhỏ nhẹ góp ý.

    “Mệt,” Greer nói.

    Seitz, với hỗ trợ đắc lực của những người lái xe xung quanh, vừa mục sở thị pha hành động của Greer và không muốn bị coi như thiếu tinh thần hợp tác, cho xe rẽ phải và tiến đến một nút giao lộ, rồi theo hướng đông phới đến đường Douglas. Khi chiếc xe lại bon bon về hướng bắc một lần nữa, Baker nói, “Các ông nghĩ thằng này sẽ làm gì? Ý tôi là, hà tất gì nó phải ra sân bay?”

    “Tôi đoán,” Greer nói, “trên kinh nghiệm đấu tranh chống tội phạm xưa rày, nó sẽ nhất quyết lên máy bay cho bằng được.”

    “Bằng cách nào?” Baker nói. “Còn an ninh sân bay chi?”

    Nghe tới đó Seitz khịt mũi một cái thật to.



    KHI SNAKE VÀ đám tùy tùng ủ dột của nó đặt chân đến nhà chờ cho chuyến bay của hãng Air Impact!, trước mắt cả bọn là con rết người đang chờ để bước qua chốt kiểm soát an ninh.

    “Khoan,” Snake nói, giật tay Jenny lại. Nó muốn xem thử đây là trò gì.

    Đó là một hoạt động an ninh sân bay tiêu biểu, nghĩa là hình như nó được vẽ ra chỉ để xách nhiễu những hành khách tuân thủ pháp luật một cách vừa đủ để trấn an họ, đồng thời không cung cấp bất cứ một lá chắn bảo vệ nào trước những tội phạm có IQ cao hơn rau cần tây. Hành khách đặt hành lý của họ lên một băng chuyền chạy qua một máy X-quang; và để điện thoại, chìa khóa, máy nhắn tin, và các vật dụng kim loại khác trên một giá đỡ lưu động nhỏ; sau đó bước qua một máy dò kim loại. Hoạt động này được giám sát bởi các nhân viên nhìn không chút sinh khí, kiểu miễn sao giữ cho cái băng chuyền còn chạy là được.

    Snake, kẻ chưa bao giờ mục kiến một chốt kiểm soát an ninh sân bay, mất cỡ hai phút để nghĩ ra kế tuồn súng qua. Nó đang có tới ba khẩu súng trên người, một đang cầm trong tay và hai khẩu còn lại nằm hai bên túi. Nó nghĩ đem hết qua chắc được, nhưng sau cùng quyết định cả mô quá cũng không tốt. Nó lùa đám tùy tùng của mình lại chỗ một thùng rác, rồi sau khi nhìn láo liên để chắc mẩm không ai để ý, nó thả hai khẩu Glock của Monica và Walter xuống đó. Nó đợi một phút nữa, cho đến khi bắt gặp một doanh nhân đeo trên vai một túi đựng laptop đang nhập vào hàng người chờ kiểm tra. Chừng gã doanh nhân bước qua, Snake đẩy Puggy vô hàng, đứng ngay sau hắn ta. Vừa bước lên, Snake vừa lầm bầm với Puggy và Jenny:

    “Khi lên tới đó, mày” – nó huých khủy tay vào Puggy – “đặt va-li lên cái băng đó rồi bước qua. Bé, mày bước qua ngay sau đó. Tao ở ngay sau lưng tụi bây. Chót chét một tiếng thôi là tao bùm liền, rõ chưa?”

    “Snake,” Eddie nói. “Tao thấy ngó bộ hổng xuôi đâu. Máy móc tùm lum kìa mày.”

    “Im mồm,” Snake gắt. Nó phát bệnh với thái độ của thằng Eddie.

    Cả bọn đã sát sườn chốt kiểm tra. Ngay phía bên kia máy dò kim loại là một gã béo quay có phận sự, như hành động của hắn tự nói lên, là xua hành khách đi qua càng nhanh càng tốt.

    “Vui lòng bước qua,” hắn nhai đi nhai lại câu đó, đưa tay phẩy phẩy bà con qua lẹ.

    Gã doanh nhân đứng trước Puggy đặt túi laptop của mình lên băng chuyền, tên mập ra hiệu cho hắn qua, rồi tiếp tục ra hiệu cho Puggy qua. Bị thúc bởi khẩu súng bọc trong áo nỉ của Snake, Puggy đặt va-li lên băng chuyền rồi lững thững bước qua máy dò kim loại. Đúng lúc đó, người đàn bà chạy máy X-quang phát hiện chiếc laptop của gã doanh nhân, liền la lên: “Kiểm tra máy tính!” Tại các chốt an ninh sân bay, họ đặc biệt cảnh giác với những chiếc máy tính.

    Tên mập xoay về phía một mụ có gương mặt sắt đá ngồi ở cái bàn cuối băng chuyền, hét ông ổng: “Kiểm tra máy tính!” Mụ mặt sắt ra hiệu cho gã doanh nhân tiến lại chỗ mình. Kế đến mụ sẽ lệnh cho hắn bật máy tính lên. Đó là nhiệm vụ tối quan trọng trong nghề nghiệp của mụ: bắt mọi người bật máy tính của họ lên. Trong thế giới của những trạm kiểm soát an ninh, việc một chiếc máy tính có thể khởi động nghiễm nhiên là bằng chứng cho thấy chúng không phải là bom.

    Vào đúng tích tắc mà tên mập quay mặt đi thì Snake, trong cùng một chuyển động, vừa đẩy Jenny qua máy dò kim loại vừa đặt khẩu súng trong áo nỉ lên giá đỡ lưu động. Đoạn nó bước thoăn thoắt qua máy dò kim loại, đến sau lưng Jenny và nhặt cái áo nỉ lên; toàn bộ thao tác ấy mất chưa tới hai giây. Lúc tên mập quay đầu lại thì Snake chỉ còn là cái bóng lướt qua, hắn lại tiếp tục phần sự của mình với hành khách tiếp theo.

    “Vui lòng bước qua!” hắn nói.

    “Kiểm tra túi xách!” Mụ X-quang nói, chỉ vào cái va-li kim khí. “Kiểm tra túi xách!” tên béo hô gióng về phía mụ mặt sắt, người đang quan sát gã doanh nhân bật máy tính. Chừng đã xong việc với hắn ta, mụ trỏ vào cái va-li kim khí nằm cuối băng chuyền, cất tiếng hỏi Puggy, “Cái này của anh phải không?”

    “Của tôi đó,” Snake lên tiếng. Nó đang đứng ngay sau Puggy, chích súng nhắc chừng.

    “Vui lòng đem lại đây và mở ra hộ,” mụ nói.

    “Làm đi,” Snake huých Puggy.

    Puggy đặt va-li lên bàn, mở hết bốn chốt rồi giở nắp lên. Mụ mặt sắt săm soi bên trong, thấy một vật hình ống bằng kim loại, một hộp đen có ghi tiếng của nước nào lạ hoắc, và một dãy công tắc.

    “Cái này là cái gì?” mụ hỏi.

    “Máy xay rác,” Snake đáp.

    “Máy xay rác hả?” mụ mặt sắt nhíu mày. Bên huấn luyện an ninh làm gì đề cập đến thứ này.

    “Nó là hàng hóa mang đi,” Snake trình bày.

    Mụ mặt sắt bần thần một chặp, toan gọi thằng giám sát của mụ đến trợ giúp. Nhưng mụ sực nhớ lần mới đây nhờ nó tới xem hộ một thứ mụ cho là khả nghi: Tưởng gì là cái máy pha cà phê! Thằng giám sát đã chửi mụ té tát vì đã làm ùn ứ hàng đợi. Thằng giám sát đã nghe được từ giám sát của nó; rằng hành khách hồi này than phiền ghê lắm, người ta lỡ bay, hoặc suýt lỡ bay chỉ vì sự lề mề của cánh an ninh.

    Mụ mặt sắt còn đang suy tư thì mụ X-quang đã nhao nhao, “Kiểm tra máy tính!” Một chiếc laptop nguy hiểm chết người khác đang chạy xuống.

    “Kiểm tra máy tính!” giọng tên mập vống tới. Bà con vẫn lũ lượt bước qua máy dò kim loại. Khu vực kiểm tra đang ùn tắc.

    Mụ mặt sắt đưa mắt nhìn dòng người, rồi đến cái va-li, rồi đến Snake.

    “Phiền ông bật nó lên,” mụ nói.

    Snake săm soi thiết bị trong va-li. Trên hộp đen cạnh vật hình ống bằng kim khí là ba cái công tắc, Snake nghĩ chắc nó như kiểu một hệ thống bảo mật, nhằm bảo vệ số ma túy hoặc ngọc lục bảo hoặc bất cứ thứ gì có trong hộp. Nó đưa tay xuống và bật cái công tắc đầu tiên. Không có gì xảy ra. Nó bật cái thứ hai. Chưa thấy gì luôn. Nó bật tiếp cái thứ ba. Những ánh đèn kỹ thuật số bắt đầu nhấp nháy dưới pa-nô đen ở góc dưới cùng bên trái hộp. Chúng hiển thị:


    00:00


    Mụ mặt sắt cau mày trước bốn con zero nhấp nháy, đoạn nhìn qua Snake.

    “Nó có bộ hẹn giờ,” nó cắt nghĩa. “Như đầu máy video vậy đó.”

    “Kiểm tra máy tính!” Mụ X-quang hô.

    “Kiểm tra máy tính!” tên béo hô. Những chiếc laptop đang chất thành đống.

    “OK,” mụ mặt sắt nói, phẩy tay ra hiệu cho băng Snake rời đi. Snake đậy nắp va-li, chẳng để ý lúc nó làm thế, những chữ số đã ngừng nháy và lúc bấy giờ đang hiển thị:


    45:00


    Rồi đến:


    44:59


    Snake khóa va-li, đoạn huých khủy tay vào Puggy, biểu, “Xách nó đi.” Puggy nhấc va-li lên rồi lững thững theo cả bọn xuống phòng chờ ra máy bay. Trong khi mụ mặt sắt ở phía sau hướng sự chú ý của mình vào hành khách tiếp theo, một chuyên gia định phí lương hưu đã sẵn sàng, khỏi đợi nhắc, khởi động máy tính của mình, hiểu rằng đó là cái giá mà xã hội tự do phải trả để đấu tranh với khủng bố.


    43:47


    Monica phi vù qua cánh cửa tự động vào ga chính, đảo mắt bốn phương tám hướng, mong chờ được thấy một bóng dáng cảnh sát. Nhưng họa vô đơn chí là có thật, toàn bộ cảnh sát sân bay khả dụng đã được điều động đến đầu kia của nhà ga hình bán nguyệt rộng lớn này, nơi rắc rối bùng phát tại quầy vé hãng Delta. Nó nảy sinh khi nhân viên Delta thông báo với một người từng-sắp-là-hành-khách rằng, ông ta không được phép mang con trăn dài bốn mét, Daphne, đang đu xà nẹo quanh người mình lên máy bay. Nôn nả chứng minh hạnh kiểm tốt của Daphne, vị hành khách này đã thả con rắn lên quầy vé. Vào cái lúc nhân viên Delta và những hành khách gần đó tá hỏa tam tinh dạt phắt ra, Daphne đã phát hiện, trên sàn nhà cách nó chừng một thước, một chuồng nhựa nhỏ vận chuyển thú cưng đang chứa hai con chồn Yorkshire có tên Pinky và Enid. Nhoáng một cái Daphne đã trườn khỏi quầy vé và lạng đến chỗ cái chuồng, giữa lúc các hành khách thất kinh dang ra để nhường đường cho trùm qua, và đập nhau loạn xạ với các hộp đựng rượu miễn thuế của họ.

    Mất vài giây để Daphne bọc người nó quanh chuồng thú cưng, giờ nó đang tìm cách tiếp xúc thân mật với Pinky và Enid. Những tiếng yip yip hãi hùng của đôi chồn thúc giục vị chủ nhân tận tụy của chúng – một góa phụ bảy mươi tư tuổi với cái hông nhân tạo – chiến thắng nỗi sợ bò sát và đập bép bép vào thân mình săn chắc của Daphne bằng một tờ tạp chí Morden Maturity vo tròn, cho đến khi bà bị đốn ngã từ phía sau bởi chủ nhân của Daphne, vốn chẳng kém cạnh về khoản nuông chiều thú cưng và từng chơi ở vị trí hậu vệ thòng hồi ở trường cao đẳng.

    Trong vòng một phút, đầu Delta của nhà ga sân bay đã được ban bố tình trạng khẩn, với gần như toàn bộ lực lượng cảnh sát phi trường đổ xô về đó, bộ đàm réo liên phanh. Bởi vậy mà vài phút sau đó, khi Monica đặt chân đến đầu bên kia của nhà ga hòng tìm viện binh, cô không thấy một mống cảnh sát nào.

    “Bà nó,” Monica rủa, quay lại thì thấy Matt, Anna và Eliot đã ở ngay sau, Nina đang lúp xúp chạy qua cửa.

    “OK,” Monica nói. “Phải chia nhau đi tìm thôi. Tôi đi phía này” – cô chỉ sang trái – “mọi người qua phía kia nghen. Nếu thấy họ, nhớ không được rời mắt nhưng cũng đừng tiếp cận. Matt, em chạy tìm tôi liền. Rõ chưa?”

    Matt và Eliot gật đầu.

    “OK,” dứt lời Monica liền rẽ trái và đâm bổ vào sóng người trong nhà ga. Matt vù chạy về phía tay mặt, Eliot và Anna xấp xãi theo sau, Nina thấy vậy co giò rượt theo. Mối bận tâm lớn nhất của Nina là làm sao để không bị tụt hậu. Bốn người còn lại, trong khi vừa chạy vừa quét mắt vào đám đông, đều quay quắt trong đầu những phiên bản khác nhau của một ý nghĩ: Có khi nào họ đã đến sai chỗ?


    42:21


    Chuyến bay 2038 của hãng Air Impact! đi Freeport là một máy bay cánh quạt hai động cơ với số ghế ngồi dành cho hai mươi hai người. Khỏi có tiếp viên hàng không hàng nước gì, và bởi nó quá nhỏ để bắc cầu tàu; nên để lên máy bay hành khách phải bước xuống một cầu thang từ cửa phòng chờ, rồi đi nốt đoạn đường lát nhựa hai mươi bảy mét đến chỗ máy bay.

    Đáng nhẽ đã có hai nhân viên Air Impact! làm việc tại cổng sân bay chiều hôm đó, nhưng không ai trong số họ xuất hiện. Thế nên việc soát vé hành khách giờ được giao cho thằng bốc xếp hành lý, Arnold Unger, kẻ gia nhập Air Impact! sau khi bị đá đít khỏi hai hãng bay khác vì bị tình nghi trộm hành lý. Unger cũng chung cảnh làm việc không nghỉ hai ca liền như Sheila, nhân viên bán vé (triệt tiêu luôn tinh thần giật giải Nhân Viên Tháng của nàng). Unger giữ cho đầu óc tỉnh táo bằng chai rum Barcadi giấu dưới cầu thang mà nó khoắng của một hành khách mới du lịch biển về. Nó rù cho chuyến bay 2038, chuyến cuối cùng trong đêm của Air Impact!, khởi hành rốp rẻng để còn về đi nhậu.

    Coi bộ là một chuyến bay nhẹ nhàng. Đa phần hành khách theo lịch trình đã lỡ chuyến bay kế tiếp vào Miami bởi thời tiết xấu ở Chicago. Unger chỉ phải bốc mười một túi hành lý lên máy bay. Khi leo thang vào phòng chờ và bấm xem list hành khách trên máy tính, nó thấy chỉ có tám cái tên, một nửa trong số đó, khá buồn cười, tên là John Smith. Phòng chờ lúc này chỉ có bốn hành khách: hai cặp vợ chồng – hai bác nhân viên bưu điện về hưu và vợ của họ, đều quê Ohio và đang sống ở Naples, Florida. Họ đã lái xe qua tiểu bang chiều hôm đó để chớp cơ hội vàng đi máy bay giá rẻ đến Bahamas của hãng Air Impact!, tính qua bển chơi lô tô cho biết. Phi Trường Quốc Tế Miami khiến họ chỉ muốn thoát khỏi nó càng sớm càng tốt. Họ chưa từng đặt chân đến chỗ nào lạ nước lạ cái đến thế, kể cả Italy, nơi có lần họ đã đến thăm thú với hội bưu điện về hưu.

    Những khuôn mặt ngước lên đầy hi vọng khi Unger xuất hiện. Trong trang phục gồm quần soóc màu xanh đen lấm bẩn, sơ mi lao động ngắn tay màu lam, đôi ủng lao động và hai miếng đệm đầu gối, nó đứng vênh vang trước cánh cửa dẫn ra cầu thang. Nó nhấc ống nghe của chiếc phôn treo tường, nhập mã số, rồi nói oang oang: “Xin chào buổi tối, thưa các quí bà, quí ông. Chuyến bay Air Impact! số 2038 tới thành phố Freeport xinh đẹp hân hạnh chào đón những hành khách bước qua cánh cửa này. Chúng ta sẽ bắt đầu với ...” – nó làm bộ ngó đông ngó tây cái phòng chờ trống trải đìu hiu, đoạn chỉ tay vào nhóm người hưu trí – “những CON NGƯỜI đáng yêu kia!” Hội bưu điện lững thững bước lên và đưa vé cho Unger. Nó biểu họ cứ theo cầu thang xuống rồi đi thẳng ra máy bay. Họ thắc mắc làm sao biết máy bay nào mà ra. Nó nói cứ ngó cái nào có chữ Air Impact! chình ình ở mặt bên là được. Cái giọng nó nghe bắt ghét.

    Lúc bấy giờ là mười phút trước khi chuyến bay khởi hành theo lịch trình, và Unger đang tính đóng cửa thì Puggy, tay xách va-li, lộc ngộc bước vào phòng chờ, theo sau nó là Snake và Jenny, sau chót là Eddie. Nhìn như những khối sáp dính chùm đang di chuyển về phía Unger. Snake chìa cho Unger mấy cái vé.

    “Á à,” Unger nói. “Các vị John Smiths đây mà.”

    Snake ném cho Unger cái nhìn đừng-nhờn-với-tao. Unger đáp lại với cái nhún vai tao-đéo-quan-tâm. Nó có té vàng té bạc gì đâu mà quan tâm, dù tụi này có là ai đi nữa, xíu nữa thôi chúng chẳng còn là vấn đề của nó. Nó chỉ về phía cửa.

    “Máy bay dưới cầu thang,” nó nói.

    Nhóm người chụm rụm bước xuống cầu thang, Unger khép cửa và theo chân cả bọn ra đến đoạn đường trải nhựa. Nó chỉ về phía chiếc máy bay, nơi các cặp vợ chồng hưu trí đang vừa la làng vì không thấy ai giúp đỡ, vừa khổ ải trèo lên cái thang gấp con con đặt ở gần đuôi máy bay, như thể đang chinh phục mười lăm mét cuối cùng của đỉnh Everest.

    Unger theo chân nhóm Snake đến chỗ máy bay. Đến nơi, nó nhướn tay về phía cái va-li, nói với Puggy, “Để tôi.”

    Snake giằng tay Unger. “Cái này lên máy bay luôn,” nó nói.

    “Thì tôi đem lên đó chứ đâu,” Unger nói. “Tới Freeport ông nhận lại.”

    “Nó đi chung với tụi này luôn,” Snake nói.

    “Í đâu được,” Unger phản đối. “To quá. Qui định FAA.”

    Snake dò dẫm trong túi quần, móc ra một xấp bạc rồi nhận vào tay Unger.

    “Thì cũng để tôi phụ một tay chớ,” Unger xởi lởi. Dưới cái nhìn gườm gườm của Snake, nó đỡ lấy cái va-li – nặng tổ mẹ – rồi hì hục đưa nó lên cái thang gấp. Vốn là một thằng mạnh cùi cụi, nhưng nó cũng chỉ gắng đưa được cái va-li lên tới đầu thang, rồi để nó nằm lù lù gần mép cửa.

    Unger vừa thở hổn hển vừa leo xuống thang. Ánh mắt nó lướt qua Snake, tia về phía nhà ga sân bay.

    “Ủa, bạn ông đi đâu vậy?” nó hỏi.

    Snake quay phắt lại, chết cha, thằng Puggy mới sờ sờ đây giờ đâu mất tiêu! Snake tia mắt về phía nhà ga, thấy một hình người trùng trục lẩn biến qua cánh cửa.

    “Thằng chó đẻ,” Snake tức khí gầm lên, bấu tay Jenny một cái thật hụng khiến cô la oai oái. “Thằng bú dù chó đẻ!” Nó quay lại Unger.

    “Chừng nào bay?” nó nói.

    “Bộ ông muốn quay lại tìm bạn hả?” Unger hỏi.

    “Không, tao muốn bay liền, ngay bây giờ!” Snake nói.

    “Thì bay liền chứ sao, ngay khi ông an tọa trên ghế và phi công kiểm tra xong xuôi,” Unger nói. “Năm mười phút nữa thôi.”

    “Lên đi,” Snake biểu Eddie. Eddie nhìn lại nơi Puggy vừa khuất dạng.

    “Snake,” Eddie ấp úng, “sao tao nghi quá ...”

    “Tao biểu mày lên máy bay lẹ,” Snake thúc khẩu súng trong áo nỉ vào người Eddie, hệt như đã làm với Puggy. Eddie lừ lừ quay lại, rồi lừ lừ trèo lên cầu thang. Snake huých Jenny, ra hiệu cô trèo lên sau Eddie. Họ phải nhoài người qua cái va-li để vào trong lối đi.

    Unger vòng ra trước và làm hiệu cho phi công kéo tấm kính chắn gió mặt bên ra. Chừng nó được mở, Unger thông báo với viên phi công, “Đi được rồi đó.”

    “Còn cha nội chạy về ga kia?” viên phi công hỏi. “Bộ hắn quên gì đó hả?”

    “Không đâu,” Unger nói. “Chắc hắn đổi ý bất tử thôi.” Unger định thòng thêm một câu đại loại như, Ở sau kia có thằng quái đản lắm, nhưng rồi lại thôi. Tụi quán đản đi máy bay nó gặp suốt. Nam Florida nhan nhản bọn lập dị. Thằng này chắc đang mang theo ma túy hay thứ quỉ gì đó. Nhưng với Unger thì phận ai nấy lo. Trễ quá rồi, giờ này là giờ ăn nhậu, mà nó cũng đâu quen biết gì tụi phi hành đoàn này, những gã trai trẻ mới được thuê để lấp chỗ những gã trai trẻ cũ đã chịu hết nổi Air Impact! và cuốn gói. Bước lùi lại khỏi máy bay, Unger giơ hai ngón tay cái động viên chàng phi công.
     
  14. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    MƯỜI HAI




    35:08


    Puggy lụi đụi chạy ra từ phòng chờ của Air Impact!, tự hỏi nên làm gì tiếp theo. Ý nghĩ chính của nó là cứ chạy và chạy, đến chừng nào xa hẳn khỏi thằng điên cầm súng lẫn cái phi trường ngoài hành tinh xô bồ rùng rợn này. Nhưng rồi nó lại nghĩ đến cô gái đang kẹt ở đó. Cô ta đang sợ chết khiếp vì cái thằng điên ấy, Puggy biết điều đó, và nó cũng biết nỗi sợ ấy là hoàn toàn có lý. Cần cấp báo cho ai đó để giải cứu cô ta, nhưng ai bây giờ? Puggy vốn dị ứng với cớm – nó đã có bao trải nghiệm tệ hại với cớm – song lúc này đây nó đang mong gần chết có một tay cớm hiện ra, để nó có thể báo về chuyện cô gái.

    Trước mặt nó là một quầy vé với hai nhân viên đang đứng sau, một gã thanh niên và một phụ nữ già dặn hơn, đang lúi húi kiểm tra các thứ giấy tờ, thực hiện những thủ tục sau chót cho chuyến bay Miami đi Philadelphia vốn đã bị hoãn gần ba tiếng. Một thoáng ngần ngừ, rồi nó đánh bạo tiến đến quầy vé. Gã nhân viên ngước lên.

    “Gì vậy ông?” giọng hắn bực bội thấy rõ.

    “Ờ...” Puggy ấp úng. “Có chuyện này ... tui muốn ...”

    “Xin lỗi ông,” gã thanh niên ngắt ngang, thái độ chẳng có vẻ gì đang xin lỗi xin phải, “chuyến bay này đóng rồi. Hết ghế rồi, OK?”

    “Ấy không, có một thằng ở dưới kia,” Puggy chỉ về phía phòng chờ Air Impact!. “Nó đang giữ một cô gái.”

    “Sir,” nữ nhân viên lên tiếng, mặt mày còn chằm dằm hơn gã kia. “Chúng tôi phải thu xếp cho chuyến bay khởi hành ngay bây giờ, OK? Dù vấn đề của ông có là gì, chúng tôi cũng không có thời gian đâu.”

    “N-nó uy hiếp cô ta!” Puggy lắp bắp. “Nó có một ...”

    “Chúng tôi không có thời gian, sir,” gã nhân viên buông câu chốt hạ đoạn trở lại với mớ giấy tờ, mụ kia cũng làm vậy. Hai đồng nghiệp khẽ nhìn nhau và cùng lắc đầu cám cảnh trước thế thái nhân tình.


    34:02


    “Kế hoạch là gì?” Baker lên tiếng hỏi. “Ta bước vô và róng chuông báo động?” Chiếc xe thuê đang len lên giữa dòng xe cộ trên đoạn dốc đến Cửa Khởi Hành.

    “Bác bỏ,” Greer nói. “Tôi đã nói rồi, càng nhiều người biết càng nhiều người chết. Tuyệt đối phải ém nhẹm, trừ phi không còn cách nào khác.”

    “Vậy làm sao ta tìm được bọn chúng?” Baker hỏi.

    “Chắc không khó đâu, một, chúng sức mấy đi nhanh được với cái va-li đó,” Greer nói. “Hai, theo lời những người bạn ở Jolly Jackal, tụi cốt đột này không được ông trời khoản đãi lắm về mặt trí tuệ. Chưa kể đến các con tin. Chúng không nổi bật giữa đám đông mới là lạ.”

    “Cũng chưa chắc,” Baker ậm ừ. “Không dễ để nổi bật ở sân bay này đâu ông.”


    33:34


    Trước quầy vé Delta, hai sĩ quan cảnh sát đang cố lay chủ nhân của Daphne tỉnh dậy. Đương sự đã chống chọi quyết liệt khi cảnh sát xúm lại kéo hắn ra khỏi bà góa phụ, chủ nhân của hai con chồn. Sau một hồi giằng co, một sĩ quan đã đập đầu hắn bằng cái đèn pin công vụ, loại dùng đến bốn cục pin, khiến hắn lăn đùng bất tỉnh tới giờ. Quả là tai họa, bởi cảnh sát cần hắn để thuyết phục con Daphne, kẻ đã từ bỏ nỗ lực tiếp xúc với Pinky và Enid, và đã lảng ra khỏi chiếc hộp vận chuyển thú cưng. Giờ thì nó đang hướng sự chú ý của mình vào những con người đang tụ lại mỗi lúc một đông, nghĩ về bất cứ điều gì một con rắn lớn đang đói bụng có thể nghĩ đến.

    Vậy là các cảnh sát kẹt. Hẳn nhiên, họ không thể để con mẹ này nhơn nhơn dạo chơi ở phi trường rồi. Nhưng cũng hẳn nhiên không kém, họ không thể liều bắn nó với từng này bà con ở đây. Nghĩa là cần ai đó câu lưu nó, song thằng chủ nó thì nằm liệt một đống đã đành, mà cũng chẳng thầy chú nào xung phong bắt giữ Daphne bằng tay không. Như một người vừa nêu ý kiến, “Ta sẽ làm gì? Còng nó lại chắc?”

    Đó, bế tắc toàn tập. Cảnh sát đứng một bên, ra sức đẩy lùi đám đông; Daphne đứng, hay chính xác hơn, uốn khúc một bên. Một sĩ quan rối rít phôn về sở, đề nghị phái một đơn vị kiểm soát động vật đến sân bay ngay lập tức, thông báo đáp lại là: đơn vị gần nhất đã bị kẹt lại trong một vụ ùn tắc giao thông nghiêm trọng trên Le Jeune Road, nghe đâu có dính dáng đến mấy con dê.



    33:17


    “Cảnh sát đâu hết rồi?” Anna hỏi với giọng gần như sảng loạn. “Cảnh sát đi đâu hết cả rồi?”

    “Rồi sẽ thấy mà,” Eliot cố trấn an nàng. “Chắc đâu quanh quanh đây thôi.” Nhưng quả tình chính anh cũng đang hoang mang. Quái! Bình thường chỗ này nhìn đâu cũng thấy cớm!

    Eliot và Anna chạy lúp xúp giữa biển người mênh mông, sau Matt một vài bước, dưới họ là Nina. Cuộc truy tìm trở nên vô vọng hơn bao giờ hết vào khoảnh khắc họ nhận ra, có quá nhiều người ở sân bay, quá nhiều nhà chờ, quá nhiều cửa.

    Họ đến một chốt kiểm soát an ninh, nơi có ít nhất hai trăm mạng sắp thành hai hàng đang đợi bước qua máy dò kim loại để vào phòng chờ. Matt, Anna, và Eliot chia nhau ra củ soát tới lui dọc theo hai hàng đợi, rà rà mấy cái mặt. Không có may mắn nào. Vừa lúc dợm bước quay lại ga chính thì họ chợt nghe tiếng kêu của Nina. Ngoảnh đầu lại họ thấy Nina đang chạy ngược về phía chốt kiểm soát, í ới một cái tên nghe như “Pogey.” Matt là người đầu tiên hướng mắt về nơi cô đang chạy đến.

    “Anh lùn!” nó la lên. “Anh lùn râu! Ở căn nhà! Người xách va-li!”

    Anna và Eliot phóng mắt về bên kia chốt kiểm soát và chứng kiến Puggy, mặt bừng sáng như đang mục kiến một kì quan lấp lánh, đang tất tả chạy về phía Nina.

    “Matt,” Eliot nói, “đi tìm cô cảnh sát mau. Ba ở đây với thằng này. Chạy đi.” Song Matt đâu có đợi nhắc, nó đã mất hút trong biển người từ lúc nào rồi.


    29:32


    “Delta đúng không anh trai?” bác tài hỏi.

    “Delta,” Henry nói.

    Henry và Leonard đang trong chiếc bus đưa đón khách miễn phí tiến vào ga chính. Chúng đã ra hiệu cho chiếc bus dừng lại – đúng hơn là nhảy xổ ra trước mặt, ép nó phải dừng – trên đoạn đường vào sân bay, sau khi bỏ lại chiếc xe thuê và rảo cẳng mệt nghỉ qua rừng xe cộ chết dí la liệt trên Le Jeune Road. Bác tài lừng khừng mãi tới khi Henry đè tờ hai mươi đô lên kính chắn gió, mới yên tâm mở cửa đón khách.

    Henry và Leonard, người ngợm nóng chảy mỡ và đang khá điên. Cứ ngấp nghé một phút là Leonard lại ngọ nguậy đầu và nhắc như nhắc đò với bà con hành khách, những người đang tránh nhìn vào hắn: “Đ.mẹ mấy con dê.” Henry, người điềm đạm hơn, cũng ớn tận cổ cái chuyến đi xất bất xang bang, đau đầu lãng này quá rồi . Hắn quyết định ngay khi lấy vé về Newark là gọi liền cho người của Pennultimate để báo: rất tiếc, nhưng mấy ông vui lòng kiếm người khác giết Arthur Herk dùm. Có các vàng hắn cũng không đời nào léo hánh tới cái thành phố điên rồ này nữa, nơi mà năm lần bảy lượt anh cố hành quyết ai đó một cách chuyên nghiệp, thận trọng, thì hoặc một tay súng khác xuất hiện, hoặc cảnh sát xuất hiện, hoặc một con chó tấn công anh, hoặc một thằng khùng nào đó phi xuống anh từ trên cây.

    “Delta tới rồi nghen,” bác tài thông báo, cho dừng chiếc bus miễn phí và mở cửa.

    Henry và Leonard lò dò xuống xe, Leonard khựng lại để nói với bác tài thay cho câu tạm biệt: “Đ.mẹ mấy con dê.”

    Chừng chiếc bus rời đi, Henry và Leonard ngó vào trong cánh cửa kính tự động của nhà ga. Người đông nườm nượp, một số còn chạy nháo nhác. Hình như có tiếng phụ nữ la hét bên trong.

    “Chuyện gì nữa đây?” Henry lầu bầu.

    “Gì đi nữa,” Leonard thở dài, “mấy con dê đó là hết cỡ thợ mộc rồi.”


    28:49


    “Nhanh coi,” Snake càu nhàu. “Coi, nhanh coi, đ.mẹ.” Nó đang độc thoại là chính, duy mấy bác bưu điện về hưu, ngồi cách bốn hàng ghế ở phần trước phi cơ Air Impact! cũng có thể nghe rõ mồn một. Cố nhiên họ không tán thành thứ ngôn ngữ của nó.

    Trong buồng lái, ngăn cách với cabin bằng một tấm rèm đen mở ra một nửa, hai phi công mới tuyển của Air Impact! đang tiến hành công tác kiểm tra trước chuyến bay. Snake coi mặt mấy thằng này, nhìn mụn mà đoán, chắc đâu mới mười bảy tuổi quá. Sự thực hai chàng đều đã hai mươi ba. Tên họ là Justin Hobert và Frank Teeterman Con – là cạ cứng từ thời tiểu học, khi hai người khám phá ra họ có chung niềm đam mê mãnh liệt với máy bay. Cả hai đã bị bạn bè châm biếm suốt thời trung học vì lẽ cứ tối ngày châu đầu vào mấy mô hình máy bay, thay vì sách ảnh khiêu dâm như bạn bè đồng trang lứa.

    Đam mê, hay u mê hàng không ấy của Justin và Frank vẫn sắt son cùng năm tháng. Cố nhiên đời sống xã hội của họ cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Nhưng có công mài sắt có ngày nên kim, sau nhiều năm văn ôn võ luyện, cả hai đã trở thành những phi công thương mại, và đêm nay lần đầu tiên đôi bạn sẽ được bay cùng nhau một cách chuyên nghiệp. Đến giờ phút này họ vẫn chưa dám tin vào may mắn của mình, hầu hết hãng bay đều buộc anh phải làm trợ tá cho những phi công kinh nghiệm vài năm đã. Hẳn nhiên, lương ở Air Impact! không bằng mấy hãng khác – chỉ 14,200$ một năm – nhưng quan trọng là họ đang được bay, được bận áo phi công mới cóng và mặc quần phi công mới cóng, và họ đang được chỉ huy. Oách chớ.

    Justin – người mới thắng trò tung đồng xu để xác định ai là cơ trưởng – quay về phía bảy hành khách trong cabin, cố làm trầm giọng và kéo dài các nguyên âm, nói: “Chào mừng quí khách đến với Air Impact! Chuyến bay số hiệu 2036 đi ...”

    “2038,” Frank nhắc khẽ.

    “À phải, Chuyến bay số hiệu 2038, đi, ờ, Freeport,” Justin nói. “Tôi, Cơ trưởng Justin Hobert và đây là phụ tá của tôi, Frank Teeterman.”

    Frank chào nhanh theo lối nhà binh.

    “Chúng tôi đã gần hoàn tất danh sách kiểm tra,” Justin nói, “vậy nên trong vòng vài phút nữa, chúng tôi sẽ đóng cửa và trình bày chi tiết cho quí khách các chỉ dẫn về an toàn, và sau đó chúng ta sẽ cất cánh.” Justin đã thao luyện bài diễn văn này trước chiếc gương phòng tắm. Nghe cũng ổn áp ghê! Dứt lời chàng trở lại với danh sách kiểm tra.

    “Ê.” Giọng thằng Snake vống lên từ hàng ghế dưới. “Sao hổng bay luôn đi, chờ mẹ gì nữa!”

    “Gì cơ?” Justin ngoái đầu lại. Hai cặp vợ chồng hưu trí cũng làm thế, từng ấy con mắt lom lom ngó Snake. Nó đang ngồi cạnh Jenny, người đang nhắm nghiền mắt và tựa đầu vào cửa sổ. Eddie ngồi ở bên kia lối đi, mặt mày như đưa đám.

    “Tôi nói là, đi luôn đi,” Snake nói. Nó đang nghĩ tới thằng bú dù vừa chạy trốn. Snake đồ rằng thằng bú dù, vốn phường cặn bã không khác gì Snake, khó có chuyện chạy đi báo cớm. Nó chỉ lo cho cái thân nó thôi, Snake trong hoàn cảnh ấy cũng sẽ làm vậy. Nhưng đêm dài lắm mộng, Snake vẫn nghĩ nên đi nhanh cho chắc.

    “Sir,” Justin nói, “chúng tôi phải hoàn thành danh sách kiểm tra, rồi ta mới đi được. Vì sự an toàn của ông cả thôi, sir.”

    Snake suýt nữa đã lôi súng ra khè thằng phi công. Thậm chí nó đã soạn sẵn một câu thoại hay: Sự an toàn của tao đây nè, thằng chó đẻ. Song nó quyết định đợi thêm một hai phút nữa.


    27:16


    “Chị cảnh sát!” Matt la lớn, băng qua đám đông ở nhà ga và vẫy tay ra hiệu với Monica, Matt phát hiện cô đang đứng cạnh quầy vé nội địa của hãng American Airlines. “Chị cảnh sát!”

    “Tìm thấy họ rồi hả?” Monica thoắt cái đã phi đến chỗ nó, sốt sắng hỏi.

    “Thấy mỗi anh lùn râu,” Matt nói. “Lối này.” Hai cô trò đang chạy sóng đôi.

    “Mỗi hắn thôi ư?” Monica hỏi. “Hắn đi một mình?”

    “Dạ,” Matt đáp.

    “Hắn có nói mấy người kia ở đâu không?” Monica hỏi.

    “Em đã nói chuyện đâu,” Matt nói. “Ba em biểu đi tìm chị liền.”

    “Giỏi lắm.” Monica nói.


    26:02


    “Kết cấu phi trường ra sao?” Greer hỏi.

    “Nhà ga chính là một hình bán nguyệt lớn,” Baker nói. “Mấy ga còn lại tỏa ra từ đó.”

    “Chỗ này gần ga chính không?” Greer hỏi tiếp.

    “Tương đối gần,” Baker nói.

    “Được rồi,” Greer nói. “Dừng xe.”

    Seitz tấp xe vô lề và dừng cạnh một tấm biển đề CẤM DỪNG MỌI LÚC. Cả bọn ra khỏi xe và đi phăng phăng về phía cửa nhà ga.

    Greer bảo Baker, “Tôi đoán bọn ngố rừng này đã quậy quọ lung tung beng ở đâu đó rồi, mời gọi sự chú ý của cớm phi trường. Tìm chúng phát một thôi. Lúc đó, bọn tôi cần ông phụ tịch thu cái va-li, bắt giữ bọn tội phạm và rút khỏi đây thiệt lẹ thiệt êm. OK?”

    “OK,” Baker gật đầu.

    “Nhưng mà nhớ nghen,” Greer nói, lần này cho cả Seitz lẫn Baker, “bọn tôi sẽ giữ cái va-li.”

    Chân ướt chân ráo vào nhà ga, đám người nhà nước suýt bị nốc ao bởi hai trự tay lăm lăm bộ đàm huỳnh huỵch chạy về phía trái của họ, hướng đến quầy Delta. Có tiếng quát tháo vọng tới, rồi ai đó hét lên.

    “Trúng mánh,” Greer đắc ý.


    25:41


    Puggy không dám tin vào mắt mình: thiên thần của nó! Đang ở đây! Đôi trai gái ríu rít nắm tay và nhìn nhau đắm đuối, với bốn con mắt nằm ngang nhau không xịch một li nào. Suốt một phút, Puggy không nghe thấy người phụ nữ kia đang nói gì với mình.

    “Làm ơn,” Anna nói, đến lần thứ ba, “con gái tôi đâu rồi? Làm ơn.”

    “Puggy, anh phải giúp,” Nina nói. Pogey, anh phải giúp.

    Puggy như bừng tỉnh. Đúng rồi, cô gái.

    “Bọn họ đi xuống theo lối kia,” nó chỉ về phía chốt kiểm soát an ninh dẫn xuống phòng chờ của Air Impact! “Họ lên máy bay hết rồi.”

    “Lạy Chúa!” Anna thảng thốt. Nàng nắm lấy cánh tay Eliot, “Mình xuống đó liền đi!”

    “Ừ phải,” Eliot gật đầu, ngó quanh quất với vẻ sốt ruột cực độ. Thằng Matt đang ở chỗ quái nào vậy? Rồi cô cảnh sát ... A kia rồi!

    “Chỗ này nè!” anh hét lên, vẫy tay ra hiệu cho Monica và Matt, những người đang đột kích qua đám đông.

    “Ảnh nói gì?” Monica hồng hộc hỏi ngay khi vừa đến chỗ cả nhóm.

    “Ảnh nói họ đã lên máy bay,” Eliot nói. “Lối này.”

    “Dẫn tôi ra đó mau,” dứt lời Monica kéo xốc Puggy và sải bước phăng phắc đến chốt kiểm soát an ninh. Puggy, còn lừng khừng chưa kịp buông Nina, lập bập suýt té nhào sau lưng Monica.

    “Khẩn cấp! Cảnh sát đây!” Monica quát khi lên đến đầu hàng đợi. “Tránh ra dùm!” Kéo theo Puggy, cô đi băng băng qua máy dò kim loại đang reo bíp bíp bởi chiếc huy hiệu cảnh sát trên áo cô. Ngay tức khắc, cô thấy một thằng mập thù lù nhảy ra chặn đường.

    “Nghe này,” Monica nói. “Đây là công chuyện khẩn của cảnh sát. Tôi cần phải đi xuống phòng chờ đằng kia với anh này, nhờ anh thông báo với cảnh sát sân bay ngay, nói là ...”

    “Tôi phải quét người này,” tên mập nói, hươ cái máy quét cầm tay về phía Puggy.

    “Bộ điếc hả trời?” Monica sầm mặt. “Đã nói là chuyện cấp bách. Có một con tin đang trên –

    “TÔI PHẢI QUÉT NGƯỜI NÀY,” tên mập nghiêm giọng, vung vẩy cái máy quét trước mặt Monica. Luật là luật.

    Này thì quét,” Monica nói, giật phăng cái máy khỏi tay tên mập rồi liệng vèo qua vai. Đoạn cô xô nhào hắn qua một bên, kéo tay Puggy tiến về phía trước.

    “Ê ê,” tên mập ú ớ. “Khoan! Làm vậy đâu được ...Khoan!”

    “Cảm phiền nghen,” Eliot vừa nói vừa chạy vèo qua máy dò kim loại lẫn tên mập; nối gót anh là Anna, Matt và Nina. “Tụi tui đi chung.”

    “ĐỨNG LẠI!” tên mập hét toáng, cố lấy thân mình lấp đường băng lên của đám phiến loạn nhưng bất thành. “BẢO VỆ!”

    “BẢO VỆ!” mụ X-quang, mụ mặt sắt ngồi cuối băng chuyền, và tất thảy nhân viên chốt kiểm soát cùng đồng thanh hợp rống. “BẢO VỆ! BẢO VỆ!”

    Đảm trách canh phòng chốt kiểm soát này là một sĩ quan tên Ralph Pendick, tình cờ là anh trai với chỉ số thông minh ngang ngửa ông em mình là Jack Pendick, người vào xế chiều hôm đó đã kịp thời chặn đứng vụ hạ sát Jenny Herk với súng nước, bằng cách xả đạn thật ở bãi đỗ xe. Phần sự của Ralph Pendick là canh chừng chốt kiểm soát này đến hết ca trực, và y phải dằn lòng lắm mới không bỏ chốt mà đi khi nghe ngóng được qua máy bộ đàm, rằng đang có biến lớn ở quầy Delta. Giương mắt ngó tụi an ninh khác rầm rập diễu qua, xông pha vào lửa đạn, mà tâm can phế phổi y như bị cào xé vì nỗi ganh tị, bởi trước giờ chưa từng có lửa hay đạn nào ở chốt trực của y. Sau cùng thì, xin lỗi chịu hết nổi, Ralph bỏ chốt và cắm đầu chạy về phía quầy Delta. Tức không ai nghe được tiếng kêu cứu của lũ lĩ nhân viên chốt kiểm soát, đang ông ổng “BẢO VỆ! BẢO VỆ” trước những bóng dáng đang xa dần của Monica, Puggy, Eliot, Matt, Anna và Nina.

    Tên mập chạy lịch bịch đến chỗ chiếc phôn treo tường, nhấc ống nghe, bấm số, và xổ vào đó tràng tràng những lời lẽ thiếu liền mạch đầy kích động. Hàng rào an ninh đã bị phá vỡ! Một sĩ quan cảnh sát có liên can! Những kẻ xâm nhập không được quét đúng quy cách! Bọn chúng có thể giấu theo ... những chiếc laptop!


    23:34


    “Thấy gì không?” Leonard hỏi. Hai gã sát thủ đang đứng bên bìa của rừng người rậm rịt trước quầy vé Delta.

    “Chịu,” Henry nói, rướn cổ lên hết cỡ. “Chỉ thấy mấy khứa đang cố để thấy.”

    “Ày, thây kệ nó,” Leonard nói. “Tao nói mình cứ tới quầy vé.”

    “Cũng đáng để thử,” Henry lầm bầm. Hắn đi tiên phong, bon chen qua đám đông đang chí chóe loạn các thứ tiếng. Cóp nhặt từ những câu tiếng Anh hắn nghe được, thì đâu như là có cảnh sát ở đằng trước, rồi có người bị thương, rồi có thứ gì đó đang bò. Khi rừng người trở nên dày đặc, chúng cố sức mở đường máu vượt lên. Henry chơi nhàu, húc văng hết mạng này đến mạng khác, mỗi bước tiến trần ai càng hun đúc quyết tâm của chúng để thoát ... khỏi ... chốn ... địa ... ngục ... trần ... gian ... này.

    Khi chúng đã tiệm cận với quầy vé Delta, rừng người đã trở nên bất khả xuyên phá. Hai thằng rơi vào thế gọng kìm, với phía sau là thành phần cố nhoi lên để xem thử chuyện gì đang xảy ra, và phía trước là những kẻ đang hớt hải lùi lại, như để né khỏi thứ gì đó. Những tiếng la hét nhặng xị từ tứ phía, om sòm nhất là khu vực phía trước Henry và Leonard. Thình lình, âm lượng những tiếng hét như được vặn lên hết nấc; đám đông dạt mạnh ra sau ngay đúng lúc Henry và Leonard trên đà lao đến. Hai thằng bổ nhào về phía trước và phút chốc thấy mình lỏng chỏng chơ vơ giữa một trảng trống, vây quanh là trập trùng những khuôn mặt nhăn nhó gào thét. Henry lấy lại được thăng bằng, trong khi Leonard tiếp tục lao đi, vấp lên cái nhà trọ của Pinky và Enid - hai sinh linh hoảng loạn đang thé lên yip yip - đổ oạch xuống sàn, rên hừ hự. Vừa mon men ngóc đầu lên thì hắn đã thấy, cái gì dzậy, trên sàn nhà cách mắt hắn 5 phân ... một cái lưỡi dài ngoằng!


    22:58


    Snake đang sôi tiết. Từng phút qua đi và hai thằng phi công mặt mụn vẫn lày quà lày quày, nói nhăng cuội vào mấy cái micro cài đầu, còn máy bay thì vẫn ì ra đấy. Snake phóng mắt qua cửa sổ, chú mục vào cánh cửa phòng chờ, lo sợ nó bật ra lúc nào không biết. Cuối cùng, hết chịu nổi, nó vùng phắt dậy rồi ra đứng giữa lối đi.

    “Ê!” nó quát lớn. “Nồ máy đi chớ bạn!”

    Justin, Frank và các bác hưu trí hằm hằm quay lại, tất cả cùng lé mắt khi chứng kiến một khẩu súng đang chĩa vào buồng lái. Nhóm hưu trí run cầm cập, rúc sâu vào ghế ngồi, tự loại mình khỏi dòng lửa đạn. Justin và Frank nhìn sững vào họng súng, óc não như đông đá. Frank làm ướt luôn cái quần phi công mới.

    “Nồ máy NGAY,” Snake nói.

    “Chúng tôi ... chúng tôi ...” Justin lắp bắp. “Đúng rồi, cửa. Chúng tôi phải đóng cửa.”

    “Cửa nẻo gì để tao lo, mặt mụn,” Snake nói. Nó quyết không để có thêm kẻ đào tẩu. “NỔ MÁY VÀ BAY TỚI BAHAMAS NGAY! KHÔNG TAO BẮN CHẾT MẸ HAI ĐỨA BAY.”

    Tới phiên ba trong số bốn người về hưu ướt quần. Justin và Frank quýnh quáng khởi động mô tơ. Một cách từ từ, cánh quạt bên phải máy bay bắt đầu quay.

    “Snake,” Eddie lên tiếng. Nó đang nhìn ra ngoài cửa sổ.

    “Sao hả?” Snake nói. Nó khom xuống và nhìn theo hướng Eddie đang nhìn, đoạn chửi um lên “Đ.mẹ. Đ.MẸ.”

    Cửa phòng chờ xịch mở. Thằng lùn chó đẻ – thằng bú dù chó đẻ – đang ló cái mặt mẹt của nó ra và chỉ chỏ về phía chiếc máy bay cho ... con mẹ cảnh sát. Con giặc cái chết bầm.

    Snake hét về phía Justin và Frank, “BAY NGAY! BAY CON MẸ NÓ NGAY!” Nó quay lại và tập tễnh ra đến cửa máy bay, giương súng nhắm vào nữ cảnh sát, nổ một phát. Tức khắc cô ta thụp vào trong nhà chờ, cắp theo tên lùn và khép cửa.

    “CHỚ LÀM ĐÉO GÌ MÀ CHƯA BAY NỮA?” Snake rống lên.

    “Phải nổ một mô tơ nữa,” Justin hét trả. Mô tơ bên phải, sau một vài tiếng ho khùng khục và nổ tanh tách, đang gầm vang đầy uy dũng. Cánh quạt trái cũng bắt đầu quay. Snake nhìn lại về phía cửa phòng chờ; có một vết nứt, nhưng nó không thể thấy gì bên trong. Lia mắt về phía trước máy bay, nó thấy Justin đang rù rì gì đó vào chiếc micro cài đầu.

    “MÀY NÓI CHUYỆN VỚI AI ĐÓ?” nó hét lên.

    “AI ĐÂU,” Justin nói to để át đi tiếng động cơ. “VỚI ẢNH THÔI MÀ.” Chàng chỉ Frank.

    “GỠ MẤY CÁI ĐÓ RA,” Snake nói.

    “PHẢI CÓ NÓ ĐỂ LIÊN LẠC VỚI ĐÀI KHÔNG LƯU,” Justin nói.

    “GỠ NÓ RA, MẶT MỤN,” Snake nói, chĩa súng về phía buồng lái. Justin và Frank lập cập gỡ micro xuống.

    “GIỜ,” Snake nói, “ĐƯA BỌN TAO RA KHỎI ĐÂY MAU.”

    “CÒN CÁI CỬA?” Justin hỏi.

    “CÁI CỬA ĐỂ TAO LO,” Snake quát. Nó định cứ để cửa mở, chí ít trong lúc này, phòng khi cần bắn tiếp.

    Justin lắc đầu, nhả phanh và từ từ tăng tốc. Chầm chậm, chiếc máy bay bắt đầu di chuyển.


    20:40


    Nom rất thủng thỉnh, song Daphne chỉ mất ít giây để lượn vài vòng quanh người Leonard. Leonard ý thức được chuyện gì đang diễn ra, nhưng hắn hoàn toàn bất lực: bất kể hắn vặn vẹo kiểu gì, để tay ở đâu, con Daphne cân hết. Với thần thái như mẫu nghi thiên hạ, nó dần dà bọc lấy con mồi. Leonard cảm biết được nội lực đáng sợ của Daphne, đây mới chỉ vài đường lai rai cho nóng người thôi, nó đâu đã dùng đến cái gọi là sức mạnh. Leonard cố nhiên đang táng đởm thần hồn; nhưng ngay cả trong cơn khiếp sợ ấy, và tiếng ồn như chợ vỡ xung quanh, và cảm giác ghê tởm dâng trào khắp châu thân trước viễn cảnh bị nuốt chửng bởi sinh vật này; não bộ hắn vẫn tìm thấy một gian không để suy cứu về trạng huống lạ lùng hiện tại: Hắn không cảm thấy áp lực nào quá lớn; không có cảm giác đang bị cùm siết. Hắn chỉ thấy việc thở ra càng lúc càng khó, còn hít vào là việc bất khả, khi Daphne, vẫn với dáng điệu khoan thai, thít chặt những mối chùng. Ý thức đang dần rời bỏ Leonard; hắn biết mình đang hấp hối. Thôi thế là hết, hết thật rồi, hắn chua chát nghĩ. Mình sẽ không còn bao giờ gặp lại New Jersey nữa.

    Và rồi, trong những le lói cuối cùng của nhận thức, hắn nghĩ: Địt mẹ mấy con rắn!


    20:31


    Trên cầu thang lúc này chỉ còn hai cô trò Monica và Matt. Sau phát súng của Snake, Monica dặn Eliot và Anna đưa Puggy quay lại ga chính và làm mọi thứ có thể – bất quá cứ đốt đại cái gì đó, cô nói – để đánh động cảnh sát và cho họ hay biết sự tình. Anna cứ muốn nấn ná gần máy bay, Monica phải hết hơi thuyết phục nàng rằng cách tốt nhất để nàng giúp được con gái mình, là đi tìm người hỗ trợ.

    “Còn thằng Matt?” Eliot hỏi.

    “Matt ở đây phòng khi tôi cần một người liên lạc,” Monica đáp. “Nó sẽ ổn thôi.”

    Eliot cùng Anna tất tả chạy ngược lên cầu thang, theo sau là Puggy và Nina. Monica hé cửa nhìn ra chiếc máy bay của hãng Air Impact!. Thân máy bay đang song song với nhà chờ. Muốn di chuyển ra đường băng, nó cần được xoay cho vuông góc với nhà chờ, nghĩa là cửa nhà chờ sẽ khuất khỏi tầm mắt người ngồi trong máy bay. Mô tơ phải của máy bay đang gầm lên, cánh quạt của nó mờ đi trong không khí; mô tơ trái cũng đang dần bắt kịp.

    “Em ở đây nghen,” Monica biểu Matt. “Theo dõi qua kẽ nứt này thôi chứ đừng ra ngoài. Chặp ba em trở lại với quân tiếp viện, hãy thuật lại cho họ mọi chuyện.”

    Chiếc máy bay bắt đầu xê dịch, lạng từ từ sang phía phải. Chừng các ô cửa sổ của nó đã khuất dạng, Monica ẩy cửa bước ra.

    “Mà chị tính làm gì?” Matt hỏi.

    “Cố chặn máy bay lại,” Monica nói.

    “Chặn bằng cách nào?” Matt hỏi tiếp.

    “Chưa biết,” Dứt lời Monica guồng chân chạy một mạch qua đoạn đường trải nhựa, không một lần nhìn lại.


    20:17


    Đặc vụ Geer đang tả xung hữu đột giữa rừng người, như một xe ủi tuyết lưỡi chữ V quét sạch những gì chắn lối. Những kẻ ngoan cố thấy mình nhanh chóng bị xúc lên và ném đi như những kiện cỏ khô. Lợi hại vậy song Greer, Seitz và Baker vẫn mất đi năm phút quí báu từ lúc còn bên bìa rừng người đến khi quầy Delta ló ra phía trước. Họ nghe bà con la hét chí chóe; thấy những người mặc cảnh phục lớp ra sức trấn áp đám đông, lớp hò hét trao đổi những chỉ dẫn cho nhau và chỉ chỏ về phía ... thứ gì đó trên sàn nhà, chưa thấy được.

    “OK,” Greer nói với qua vai trong khi dấn mình về phía trước, giải quyết nốt những centimet cuối cùng của rừng người. “Nhớ nghen, cái va-li là của tụi tôi.”


    19:58


    Máy bay Air Impact! đang dần tăng tốc, duy nó vẫn tà tà vừa đủ để Monica – vốn là người chạy nhanh nhất trường đến tận năm lớp sáu, khi cô bắt đầu có ngực – có thể áp sát. Cô ngoặt sang trái và thấy cửa vào ở nửa sau chiếc máy bay vẫn đang mở, treo tòng teng một chiếc thang gấp nhỏ. Cô cố không nghĩ đến khẩu súng. Bắt kịp máy bay trước đã.


    19:50


    Cả đời Henry chưa từng xuống tay với một con rắn, lớn nhỏ gì cũng chưa. Nhưng hắn là một cao thủ, và hắn biết mình phải suy nghĩ thật sáng suốt – mau lẹ nhưng sáng suốt – về đối sách cho trạng huống này. Phải bắn vô đầu con rắn, cái đó đương nhiên, ngặt nỗi viên đạn sẽ không dừng lại. Henry không mong nó trúng vào Leonard, cái đó cũng đương nhiên, song hắn cũng chẳng vui sướng gì nếu nó găm phải bà con nào ở đây. Hắn không muốn bắn xuống, bởi viên đạn sẽ dội lên khỏi nền bê tông dưới lớp thảm này. Henry quyết định phương án tối ưu nhất là bắn lên trần nhà.

    Henry khụy xuống và rút khẩu súng từ bao da ra. Đoạn hắn đứng dậy và lượn một vòng quanh Leonard, người đang trợn trạc đôi mắt và gương mặt đã ngả sang màu đỏ bordeaux. Có hai anh cớm gan dạ đang bấu lấy cổ Daphne và mắm môi mắm lợi kéo mạnh, song Daphne vẫn cứ trơ trơ. Chặp Henry tiến đến chỗ họ, một anh cớm khác liền chạy về phía hắn, quát lên gì đó Henry không thể cắt nghĩa giữa tiếng huyên náo chung này; nhác thấy khẩu súng trong tay Henry, anh ta giật mình lui lại. Henry tiếp tục khoe con chó lửa với hai anh cớm gan dạ kia; họ đưa mắt nhìn nhau, đoạn buông Daphne ra và đứng dậy. Tức khắc Henry rạp mình xuống sàn, lăn đến sát cạnh Leonard. Và khi Daphne, tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến, thủng thẳng xoay đầu qua để xem thử chuyện gì đang diễn ra, Henry kê sát nòng súng ngay dưới quai hàm nó, siết cò, và óc não con rắn phọt ra, cũng không nhiều nhặn gì mấy.

    Một giây sau, Greer hùng hổ lao qua đám đông, lập tức rút súng khi nghe tiếng nổ và âm thanh hỗn loạn tiếp sau đó. Bất chợt y đứng khựng lại với khẩu súng trong tay, sững sờ nhìn cảnh tượng trên sàn nhà – đầu tiên là Leonard bất tỉnh nhân sự, rồi đến Daphne không đầu, và sau cùng là Henry, vẫn đang ngửa người trên sàn và súng vẫn chĩa lên trần nhà.

    Hai vị hảo hán gườm mắt nhìn nhau một chặp. Sau cùng, Henry lên tiếng.

    “Đặc vụ Greer,” hắn nói. “Ngọn gió nào đưa ông đến Miami thế?”


    19:22


    Máy bay đang di chuyển nhanh hơn. Monica thấy mình mau chóng hụt hơi, cô không dám chắc mình có thể bắt kịp nó. Cô cũng không dám chắc mình có quyết tâm bắt kịp nó. Nhưng một nguồn năng lượng nào đó đã bùng dậy trong cô, đốc thúc cô tiến lên, và giờ cô đã gần bắt kịp cái thang. Cô vươn tay trái ra hết cỡ, và trong một giây đã níu được thanh thép lan can bọc plastic, song nỗ lực nhoài người về phía trước khiến cô chậm đi đáng kể, và cái thang vuột khỏi tay cô. Vắt đến kiệt cùng sức lực, phổi như bốc cháy, cô ném mình về phía trước một lần nữa và lần này đã nắm được cái thang, nhưng cô đang mất thăng bằng và ... thôi chết rồi, cô đang ngã và máy bay sẽ bỏ xa và ...

    ... và Matt, phi như lăng ba vi bộ đến cạnh cô, vực cô dậy và đẩy cô về phía trước, cô nắm được thanh lan can còn lại và đu lên được cầu thang. Leo đến bậc thang thứ hai, cô quay lại chìa tay cho Matt nắm lấy và kéo nó lên. Chỉ một giây sau Matt đã ở bậc thang bên dưới, và giây tiếp theo máy bay đột ngột tăng tốc. Không ai có thể bắt kịp nó lúc này, dù có là người chạy nhanh nhất thế giới.


    18:37


    Mồ hôi vã như tắm, Eliot cùng các đồng đội kéo về lại chốt kiểm soát an ninh.

    “CẢNH SÁT!” anh la lớn. “CẢNH SÁT!”

    Phía trước, một đoàn khách tàu du lịch trên đường về đang há hốc mồm nhìn một gã đùng đùng xông đến.

    “GỌI 911!” Eliot quát lên với họ trên đường băng qua. “LÀM ƠN. CÓ MỘT THẰNG ĐANG NỔ SÚNG DƯỚI KIA.”

    Đoàn khách trố mắt nhìn Eliot lao biến khỏi phòng chờ, với Anna, Puggy, và Nina theo sau. Một người lững thững bước đến chỗ chiếc phôn trả tiền, bấm 911, và thuật lại cho tổng đài viên những lời vừa rồi của Eliot. Tổng đài viên 911 nói cảnh sát đã được thông tin về vụ nổ súng ở sân bay và đã khống chế được tình hình. Vị hành khách thuật lại thông tin đó, và cả đoàn thở phào nhẹ nhõm.


    18:08


    Monica nhấc mình lên đầu thang rồi chồm qua cái va-li, người cúi rạp. Cô đưa mắt nhìn quanh hàng ghế chót bên trái và thấy thằng Snake đang đứng nghênh ngang giữa máy bay, quay lưng – ơn trời – về phía cô. Nó đang quan sát những phi công.

    Người phi công bên trái hét gì đó với Snake, Monica đồ là về cánh cửa. Snake hét gì đó Monica không nghe rõ, rồi chĩa súng vào người phi công. Người phi công nhún vai, trở lại với bảng điều khiển.

    Monica bò ngang qua lối đi đến chỗ hàng ghế chót bên phải máy bay. Matt bò vào lối đi và rẽ sang hàng ghế chót bên trái. Nó ném cho cô cái nhìn thay cho câu hỏi: Giờ sao? Monica đưa tay lên ngỏ ý: Cứ chờ đã. Chờ cái gì thì chính cô cũng không biết. Máy bay đã di chuyển đến cuối đường lăn và đang rẽ vào đường băng. Cất cánh đến nơi rồi.


    17:41


    Vào cái lúc trẽ sang đường Garbanzo, đôi vợ chồng trong chiếc Lexus vẫn chưa thôi cãi lẫy. Họ đã cãi nhau suốt hai giờ liền từ khi bắt đầu bữa tối tại nhà hàng Italy ở Coral Gables. Hai người xung đột về chuyện nên hay không nên ở lại Miami, nơi người chồng được ngân hàng của mình điều đến công tác suốt một năm rưỡi nay, hay khăn gói trở về Cedar Rapids, quê họ. Chàng nghĩ họ nên bám trụ ở đây vì kế sinh nhai; trong khi nàng khăng khăng “đưa nhau lên tàu về quê ta sống vui hơn.”

    Đang cãi hăng thì họ suýt tông phải một trự vạm vỡ đứng lù lù giữa đường cái, tay khua khoắng lia. Trên người hắn là một thứ đồng phục nào đó, nhàu nhĩ bẩn thỉu và ướt sũng bởi mồ hôi, và máu đang chảy dọc cánh tay hắn, thứ đang bị ... xích vào một khối kim khí móp méo, và khối kim khí thì ... Quỷ thần ơi, bị xích vào một trự khác ở đầu bên kia, một kẻ nhìn không bình thường chút nào. Kế bên hắn là một con chó bự cốt xì nái.

    “Thôi đi lẹ em ơi,” người chồng nói.

    “Trông như người ta đang cần giúp mà anh,” cô vợ nói.

    “Ừ giúp thì giúp,” người chồng làu bàu, “nhưng mình cứ ở trong xe cho chắc.”

    Vẫn giữ máy nổ, người chồng nhấn nút mở khóa rồi cho cửa sổ xe hạ xuống độ 5 phân.

    “Anh gì ơi,” gã vạm vỡ nói. “Tôi đây là một sĩ quan cảnh sát Miami, anh làm ơn ...”

    “CHẠY ĐI! CHẠY ĐI KHI CÒN CÓ THỂ!” gã quái đản ngắt ngang.

    “CÂM MỒM!” gã vạm vỡ nạt. Quay sang đôi vợ chồng hắn nói tiếp, “anh chị làm ơn ...”

    “BẢ MUỐN LẤY LINH HỒN ÔNG!” gã quái đản nói, chỉ vào con chó. Nó khịt khịt ngón tay của hắn, rồi sủa gâu gâu.

    “CÂM MỒM!” gã vạm vỡ phồng mang trợn mắt, xô mạnh đống kim loại về phía gã quái đản khiến hắn té lăn quay. “TAO PHẢI NÓI BAO NHIÊU LẦN NỮA HẢ? NÓ ĐÉO PHẢI ELIZABETH DOLE!”

    Người chồng lật đật dậm ga. Chiếc ô tô vọt đi, bánh xe nghiến đường kêu rét rét.

    “ĐỪNG!” gã vạm vỡ tru tréo. “QUAY LẠI ĐI MÀ!”

    Người chồng cho xe vọt qua ba khối nhà trước khi mở miệng.

    “OK,” chàng nói. “Em phôn cho tụi dọn nhà đi.”


    17:01


    “Bộ người quen hả?” Baker hỏi Greer. Họ đang đứng cùng Henry quan sát ba cảnh sát cùng hai nhân viên y tế gỡ xác Daphne ra khỏi Leonard, người đang dần lấy lại ý thức. Một người nữa cũng vừa tỉnh lại là chủ nhân của Daphne, chính thức bị cảnh sát câu lưu, và chưa gì đã nhận được một lố danh thiếp từ bốn luật sư chuyên về thương tật cá nhân tình cờ có mặt tại hiện trường.

    “Ừ đúng,” Greer gật gù, “Người muôn năm cũ ở Jersey. Hồi tôi còn trực thuộc ban phòng chống tội phạm có tổ chức, hỏi cung Henry suốt mà.”

    “Có tổ chức đã mừng,” Henry nói. “Vậy nên tôi mới rút.”

    “À vậy ra ông bạn về hưu rồi ư?” Greer hỏi. “Hồi này chỉ lày quày sưu tập tem, uống Ensure?”

    “Đại khái vậy,” Henry ừ hử.

    “Nhìn là biết mà,” Greer cười nhạt. “Này, tôi rất muốn nghe bạn giải thích với các thầy chú ở đây lí do gì bạn mang vũ khí giết người vào sân bay. Ngặt nỗi tôi đang kẹt một sự vụ liên bang nghiêm trọng, thông cảm nghen?”

    “Ừ, có nói chuyện là vui rồi.” Henry đáp qua loa rồi trở lại với Leonard.

    “OK,” Greer quay sang Baker và Seitz. “Tụi này là cô hồn chính cống, nhưng không phải tụi cô hồn ta cần. Tôi cần nói chuyện với ai đó phụ trách chỗ này.”

    “Người đứng kia. Tôi khá chắc ổng là cảnh sát trưởng sân bay,” Baker chỉ vào một lão đầu bạc bận sơ mi và đeo cà vạt, một tay cầm điện thoại di động kê lên mặt nói chuyện, tay kia là máy bộ đàm đang kêu tít tít. Greer xán lại chỗ lão.

    “Không, không ai bị bắn,” lão đầu bạc nói. “Chỉ con rắn bị bắn.” Lão ngừng một nhịp, rồi nói tiếp, “Tôi nào biết cái loại gì. Một con rắn to trời thần.”

    Greer xòe cái bóp đựng phù hiệu cho lão thấy.

    “FBI,” y nói.

    Lão đưa tay gạt cái bóp.

    “Ở đây không cần giúp,” lão nói. “Xong xả hết rồi.”

    “Không,” Greer nói. “Tôi cần ông giúp.”

    “Ủa, vậy hả, chịu khó đợi đi,” lão đầu bạc nói, ngoe nguẩy quay đi.

    Greer nhếch lên vài bước, rút chiếc phôn kỳ dị từ túi quần ra và bấm một nút trên đó. Y chờ trong hai giây, rồi nói gì đó qua máy trong hai mươi giây tiếp theo. Đoạn y bấm một nút khác và cho máy vào lại túi quần, quay lại và đến đứng sát bên lão đầu bạc, nhịp chân chờ đợi. Lão đầu bạc làm lơ, tiếp tục nói chuyện qua chiếc phôn của lão chừng ba mươi giây rồi bỗng im bặt, chăm chú lắng nghe.

    “Hả?” lão nói, đưa mắt sang Greer. Greer lại xòe bóp ra khoe.

    “Vâng,” lão đầu bạc nói qua phôn. “Ông ấy đang ở đây.” Lão nghe thêm gì đó, đoạn chau mày.

    “Nhưng ...” lão ấp úng, rồi lại im lặng lắng nghe.

    “OK,” lão nói. “Tôi hiểu rồi.” Lão tắt máy, nhìn Greer với ánh mắt khác hẳn.

    “Tên tôi là Arch Ridley,” lão nói. “Nói tôi biết ông cần gì.”

    “Tôi cần ông cho biết bất cứ chuyện khác thường nào xảy ra ở sân bay này, trong ba mươi phút vừa qua,” Greer nói. “Ngoài vụ lộn xộn ở đây.”

    “Để tôi điện phòng bảo vệ,” lão bấm một số điện thoại, chờ đợi, rồi nói sang sảng, “Doris. Arch đây. Nghe này, có gì ... Gì? Hả? Trời đất ơi. Hồi nào?”

    “Gì vậy?” Greer nôn nóng hỏi. Ridley đưa tay lên, ra hiệu chờ xíu.

    “Bậy, đâu phải lỗi cô,” lão nói, “tin tức lu bù quá, tổng đài người ta bận thôi. Rồi mấy người đó còn ... OK ... OK ... chết mẹ rồi. OK. Cứ trực điện thoại. Tôi gọi lại liền.” Đoạn lão tắt máy.

    “Sao hả?” Greer vồn vập.

    “Năm phút trước,” Ridley nói. “đài không lưu nói họ nhận được tin từ viên phi công trên mặt đất, nói có thằng nào xách súng lên máy bay của ảnh, buộc ảnh cất cánh.”

    “Ôi trời,” Greer nói.

    “Đài không lưu cố bắt liên lạc, không thấy phản hồi gì ráo,” Ridley nói. “Máy bay mới ra khỏi đường lăn, mới cất cánh tức thì đây.”

    “Bỏ mẹ,” Greer nói. “Nó đi đâu?”

    “Chuyến bay hãng Air Impact!,” Ridley đáp. “Máy bay cánh quạt. Đi Bahamas.”

    “OK,” Greer nói, “nghe đây, gọi đài không lưu, bảo họ theo dõi chiếc máy bay, cố giữ liên lạc với họ. Lối nào đến quầy Air Impact!?”

    “Lối này,” Ridley chỉ tay, “cũng hơn nửa đường quanh ga đó. Để tôi ...”

    Song Greer, Seitz, và Baker đã co giò chạy thục mạng.


    15:21


    Chuyến bay 2038 cất cánh theo chiều gió thịnh hành, về phía tây. Khi máy bay đạt đến cao độ bên trên Everglades, Justin bẻ lái sang trái, tạo ra một cú ngoặt dài, chậm rãi đến khi máy bay gần như trực chỉ về phía đông, tiến về phía trung tâm Miami, vượt khỏi Biscayne Bay, đến mút phía nam của thành phố Miami Beach, và tiếp đến là Đại Tây Dương. Justin nguyện cầu sao cho trạm kiểm soát không lưu đang thông báo cho các trạm khác vị trí của anh, bởi không có radio, anh không thể nhận được những chỉ dẫn bay.

    Justin liếc qua Frank, và cái mà anh chứng kiến không hay chút nào: Frank đã hóa zombie. Giờ thì mọi hi vọng đặt hết lên vai Justin, vị thuyền trưởng đơn độc, đương đầu với thằng điên có súng này. Anh nghĩ cần nhất là đừng chọc giận nó mà chết lãng, cứ làm theo lời nó, chở nó tới Freeport. Họ sẽ dò qua ra-đa, sẽ thông báo cho cơ quan chức năng, đội giải cứu sẽ được gửi đến.

    Justin bám riết lấy ý nghĩ đó. Cứu viện đang đến.


    15:06


    Greer vừa chạy vừa nói chuyện qua chiếc phôn kỳ dị. Baker xấp xãi bám theo, nghe lõm bõm tiếng được tiếng mất. Từ duy nhất ông nghe rõ là: “máy bay chiến đấu.”
     
  15. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    MƯỜI BA





    14:16


    Toán nhân viên an ninh nhác thấy Eliot từ phòng chờ đang lao về phía họ, mồm la ông ổng: Cảnh sát! Cảnh sát! Và khi anh đến gần chốt kiểm soát, họ nhận ra đó là một gương mặt trong bè lũ phản động vài phút trước, tụi ngất ngư không coi thủ tục an ninh ra gì.

    “CHẶN HẮN LẠI!” tên mập quát, chỉ vào Eliot.

    “CHẶN HẮN LẠI!” mụ X-quang, mụ mặt sắt ngồi cuối băng chuyền, và toàn thể nhân viên chốt kiểm soát cùng bắt giọng la: “CHẶN HẮN LẠI!”

    Vừa lúc Eliot trẽ phải đến lối ra chốt kiểm soát, khi không xuất hiện ba thanh niên, trên đường về Pittsburgh sau một tuần thác loạn ở South Beach, nhảy xổ ra chặn đường anh. Cả ba thằng nhìn là biết dân tập tạ, tập trung lấy điểm ở phần bắp tay. Thằng nào cũng phong phanh áo ba lỗ, trang phục trường kì kháng chiến của chúng, trừ phi nhiệt độ xung quanh hạ xuống dưới bốn độ celsius.

    “Tránh coi!” Eliot nói, cố lách qua mấy tấm thân trâu bò. “Tôi phải tìm cảnh sát.”

    “BẮT HẮN!” tên mập bảo vệ hét tới.

    Một trong ba thằng túm lấy tay Eliot.

    “Từ từ đã, chú ba,” nó nói.

    “Nghe dùm,” Eliot cố giữ giọng bình tĩnh. “Tôi phải tìm cảnh sát gấp. Có một thằng đang bắn loạn dưới kia kìa.” Anh giựt tay ra.

    “ĐỪNG ĐỂ HẮN THOÁT!” Vẫn là tên mập.

    Ba lực sĩ trẻ quyết định nghe lời tên mập, bởi dù gì hắn cũng đang mặc áo cánh đồng phục, đáng tin hơn chắc. Cả ba mạng hùng hổ xáp vô Eliot.

    “ĐỪNG MÀ!” Eliot hét toáng lên, giãy giụa cố thoát thân. “TÔI CẦN PHẢI úi cha.”

    Eliot tưởng đâu đã tắt thở luôn khi ngã ập mặt xuống sàn nhà lót thảm, với ba tấm thân trâu bò đè lên mình. Người vừa nốc ao cả bọn là đả nữ Anna, đã dũng mãnh phi thân vào đống hỗn loạn, và giờ đang đấm bụp bụp lên đầu một thằng lực sĩ.

    “Buông ảnh ra coi, mấy thằng ngu này!” nàng hống lên. “ Ảnh đang tìm người giúp mà!”

    “BẮT CON MẸ ĐÓ LUÔN!” tên béo dậm chân. “Ả LÀ ĐỒNG BỌN!”

    Một thằng lực sĩ giật cùi chỏ vào bụng Anna, khiến nàng văng ra khỏi đồi người, rên ồng ộc. Hai thằng còn lại, mỗi thằng siết một tay Eliot, chà mặt anh xuống sàn như giẻ lau. Eliot hết ú ớ nổi, và anh có cảm giác tay phải của mình sắp long ra tới nơi. Thu hết sức tàn, anh gượng nhấc người lên trong nỗ lực tuyệt vọng cuối cùng, và ...

    ... và một thằng lực sĩ đã biến mất. Rồi đến một thằng khác. Eliot lật người sang phải và chứng kiến thằng lực sĩ thứ ba đang chao liệng giữa không trung, đập cái chạch vào tường, rớt xuống nằm cạnh hai thằng kia.

    Người thực hiện những cú ném là Puggy, cả đời chưa đụng đến quả tạ nào, nhưng rất có tài khuân vác vật nặng. Nó khom xuống – hòm hòm thôi là đủ – ân cần đỡ Eliot dậy. Nina đang giúp Anna, người vẫn đang thở một cách khó nhọc.

    “AI BẮT TỤI NÓ LẠI ĐI CHỚ!” tên béo lại hét ỏm tỏi, dù riêng hắn chả rục rịch xíu nào.

    “Ra khỏi đây thôi,” Eliot bảo Anna, nàng gật đầu tỏ ý vẫn ổn và phất tay giục anh đi nhanh. Với Eliot tiên phong, bè lũ phản động phới khỏi chốt kiểm soát an ninh rồi trẽ phải. Vài mống bảo vệ lúp xúp nạp theo, í ới kêu gọi bà con chặn tụi này lại dùm. Eliot vừa chạy vừa đau đáu nhìn quanh đám đông đang trố mắt; tụi cớm đang ở cái kẹt cái hóc nào vậy trời?


    13:36


    Vào lúc Greer, Seitz, và Baker đến quầy vé Air Impact! thì nó đã vắng hoe, không còn chuyến bay nào trong đêm đó, và nàng Sheila đã về nhà để chăm con ốm.

    “Giờ sao?” Baker hỏi.

    Greer đang dán mắt vào lịch trình bay của Air Impact! trên bức tường sau quầy vé.

    “Đi đến chỗ cổng nhà ga,” y nói. “Tìm coi thằng nào bốc hành lí lên máy bay, hỏi nó xem có ai trên đó.”

    “Lối này,” Seitz nói.


    13:00


    Máy bay 2038 đang xuôi qua thành phố Miami Beach. Những chòm sáng miên man rực rỡ của Hạt Dale đã nằm lại ở phía sau, và Đại Tây Dương trải ra trước mắt như một thảm đen bạt ngàn, điểm xuyết li ti những ánh đèn từ vài chiếc tàu hàng phương bắc tuồng như bất động giữa làn vận chuyển Gulf Stream. Justin thấy cô đơn vời vợi. Kế bên anh, Frank sững đơ như người chết bởi nỗi khiếp hoảng. Cùng lúc sau lưng anh, hai cặp vợ chồng bưu điện về hưu thu mình trên ghế như mấy con cuốn chiếu, hai bà vợ thút thít khóc trong khi hai ông chồng nhìn trừng trừng xuống sàn máy bay. Đằng sau họ, thằng điên vẫn đang nghênh ngang giữa lối đi, tay lăm lăm súng, mắt gườm gườm như diều hâu canh mồi. Nó chỉ trao đổi với Justin đúng một lần, quát lớn để át đi tiếng ồn từ động cơ máy bay.

    “Hai điều thôi, mặt mụn,” nó hăm. “Mày rớ tới cái radio, mày chết. Máy bay không đáp xuống Bahamas, mày chết.”

    Justin biết thằng này phải điên nặng mới bắn anh, bởi nếu vậy ai lái máy bay? Nhưng anh cũng biết, thằng này không điên mới là lạ, bằng không sao nó lại làm tất cả chuyện này?

    Lo lắng chồng lắng lo, một tiếng báo động cứ kêu tít tít suốt trong tai Justin, nhắc anh rằng cửa ra vào hãy còn chưa đóng. Cái cửa, rồi cái thang, đang khiến cho việc điều khiển máy bay trở nên bất thường hơn bao giờ hết. Justin lo ngay ngáy về việc hạ cánh ở Freeport. Đó là nếu họ có bao giờ đến được Freeport.

    Làm ơn, anh nghĩ – dù không chắc mình gửi gắm ý nghĩ ấy cho ai – làm ơn cho người đến cứu.


    12:26


    Hai chiếc F-16 đã dùng đến rocket để cất cánh khẩn cấp từ Căn Cứ Dự Bị Không Quân Homestead, Nam Hạt Dade. Vừa vút lên không trung là chúng tức thì rẽ sang hướng đông bắc, và chưa đầy một phút chúng đã tiệm cận với vận tốc âm thanh, thu hẹp đáng kể khoảng cách với chiếc máy bay dân sự phía trên Miami Beach, như thể nó di chuyển không nhanh gì hơn mấy con tàu hàng trên Gulf Stream. Mệnh lệnh của các phi công máy bay chiến đấu là hiện diện ở phía sau và bên trên chiếc máy bay dân sự, bám sát nhưng ngoài tầm nhìn của nó. Họ không được khai hỏa những quả tên lửa. Chưa tới lúc.


    11:49


    Greer, Seitz, và Baker trông thấy khi đang băng qua đám đông, một gã mặc quần soóc áo phông đang chạy đến từ phía đối diện, bộ điệu lo quýnh.

    “CẢNH SÁT!” gã hét lên.

    Greer và Seitz lơ đẹp; giờ đâu phải lúc lo chuyện bao đồng. Song Baker thì nhìn chằm chằm vào mặt gã. Ông nhớ mài mại đã thấy nó ở đâu rồi. Đoạn ông thấy người đàn bà đang chạy sau lưng gã, thôi rồi khỏi trật!

    “Bà Herk!” ông lên tiếng gọi. Đôi nam nữ khựng lại, ngoái cổ nhìn ông.

    “Tôi là Thám tử Baker,” ông nói, “Sở cảnh sát Miami.”

    “Tạ ơn Chúa!” Anna vội túm tay Baker. “Ông cần phải ...”

    “Khoan,” Baker nói. Ông gân cổ hét gọi Greer và Seitz, những người đã mất dạng trong đám đông phía trước, “Đặc vụ Greer! Quay lại đây đi!”

    Greer hối hả chạy lại, sốt ruột gắt lên “Chuyện gì?”

    “Đây là Bà Herk,” Baker nói. “Cái va-li trong ngôi nhà ấy. Đó là nhà của bà ta.”

    Greer tức khắc túm tay Anna.

    “Bà Herk,” y nói, “Tôi bên FBI. Tôi cần bà ...”

    “Con gái tôi,” Anna nói. “Nó đang ở trên máy bay với tên đó, hắn nổ súng vào bọn tôi, ông làm ơn ...”

    “Nghe tôi này bà Herk,” Greer nói, giờ thì ông đang nắm chặt Anna bằng cả hai bàn tay mình. “Bọn tôi lo cho con gái bà chứ, nhưng bọn tôi cần biết cái va-li kim khí ấy đang ở đâu?”

    Anna lắc đầu. “Tôi chịu ... Tôi thấy chúng có nó từ trước rồi, chúng đem nó theo lúc rời nhà tôi ...”

    “Nó có trên máy bay không?” Greer hỏi dồn. “Chúng có mang cái va-li ấy lên máy bay không?”

    “Tôi không biết,” Anna riu ríu, nước mắt lưng tròng. “Tôi không biết gì về cái va-li hết.”

    “Bà Herk,” Greer lay mạnh tay nàng, “bà cố gắng dùm cho ...”

    Eliot kéo xịch Anna ra và sấn đến trước mặt Greer. Mũi họ chỉ cách nhau một phân.

    “Người ta đã nói không biết rồi mà,” Eliot xẵng giọng. “Người ta muốn con gái mình kìa. Ai hơi đâu mà quan tâm tới cái va-li chó đẻ của ông?”

    “Ông là?” Greer hỏi.

    “Tôi là bạn cổ,” Eliot nói.

    “À bạn, bạn nghe dùm,” Greer nói, “nếu bạn muốn cứu con gái cổ, bạn bắt buộc phải quan tâm tới cái va-li chó đẻ đó.”

    “Cổ không biết gì đâu,” Eliot nói. “Cổ đi chung với tôi mà. Anh này mới đi cùng cái va-li nè.” Eliot chỉ vào Puggy vừa tất tả chạy đến.

    Greer quay sang Puggy.

    “Anh là?” y hỏi.

    “Puggy,” Puggy đáp.

    “Anh đi cùng cái va-li sao?” Greer hỏi. “Cái bằng kim khí ấy? Anh thấy nó chứ?”

    “Thì tôi rinh nó chớ ai,” Puggy nói. “Nặng dữ thần.”

    “Anh rinh nó ?” Greer tròn mắt. “Mà rinh đi đâu?”

    “Lên máy bay,” Puggy nói.

    “Nó đang ở trên máy bay?”

    “Phải,” Puggy đáp.

    Greer suy nghĩ trong một giây, đoạn hỏi, “Có ai mở va-li ra chưa?”

    “Ở chỗ kia,” Puggy trỏ về phía chốt kiểm soát an ninh.

    “Họ mở nó ra ở đó hả?” Greer hỏi.

    “Phải,” Puggy gật đầu. “Họ biểu thằng đó bật nó lên coi thử.”

    Mặt Greer bỗng tái mét.

    “Nó bật lên bằng cách nào?” y hỏi.

    “À thì ... đại khái có mấy cái công tắc, nó làm như này ...” Puggy hươ hươ tay như đang diễn kịch câm, bật mấy cái công tắc tưởng tượng.

    “Rồi sao?” Giọng Greer lạc hẳn đi. “Có gì xảy ra sau khi nó làm thế không?”

    “Đèn nháy,” Puggy nói. “Mấy con số nhỏ nhỏ.”

    Greer liếc mắt sang Seitz và Baker, những người đang đờ mặt lắng nghe. Seitz trông trắng nhợt như một thây ma. Baker nhìn như mới trúng gió.

    Greer lại quay sang Puggy. “Chuyện đó xảy ra lúc nào?” y hỏi. “Nó bật lên lâu mau rồi?”

    Puggy nhẩm tính trong đầu.

    “Ờ cũng lâu rồi đó,” nó nói.


    07:43


    Hai chân Monica tê rần vì phải cúi gập người trong không gian chỉ vừa đủ để người ngồi ghế nhét chân vào. Cô đang vắt óc suy nghĩ, song thật khó với tiếng gầm gào của gió và động cơ lùa qua cánh cửa mở.

    Hai lần, rất thận trọng, cô nhô đầu lên vừa đủ để quan sát từ hàng ghế trước mặt đến đầu máy bay. Cả hai lần, Snake đều nhìn ra trước. Một lần cô nghe nó nói gì đó với phi công, song không xác định được nó nói gì.

    Cứ chốc chốc cô lại trao đổi bằng ánh mắt với Matt, người đang thu mình sau băng ghế cạnh lối đi. Cô cố để tỏ ra tự tin, dù thâm tâm đang nói điều ngược lại. Cô không có một kế sách nào cả. Tính tới tính lui chỉ thấy mỗi nước nhảy vào thằng Snake từ phía sau, mà lúc đó kiểu gì nó chẳng bóp cò, nghĩa là mạo hiểm tính mạng của các hành khách phía trước nó – Monica không biết là bao nhiêu người. Và tất nhiên là các phi công. Mấy khứa đó mà dính đạn là khỏi ai sống. Mặt khác, nếu cô không sớm khống chế thằng Snake này, sợ nó cũng giết sạch không chừa mạng nào quá. Thằng này nó điên có chứng chỉ luôn rồi.

    Monica đánh mắt với Matt, thêm một tín hiệu “hãy vững tin”. Nó nhìn cô với vẻ sượng trân. Rõ ràng nó đang sợ.

    Monica nhủ thầm, Thằng nhỏ có lí.


    06:22


    Greer đang đứng bên lề đám đông trong ga chính, cạnh một quầy vé đã đóng cửa, nói chuyện qua chiếc phôn kỳ dị. Seitz và Baker đứng gần bên, dỏng tai nghe ngóng. Cách đó mấy bước là Eliot, đương choàng tay quanh Anna, và Puggy, đương nắm tay Nina.

    “Chưa có tin gì từ phi công ư?” Greer nói vào điện thoại. “OK, vị trí của anh ta là ... OK. Bên Homestead sao rồi? Họ ... rồi, OK, rồi.” Greer nhìn đồng hồ. “OK, quyết định vậy đi.”

    “Tôi không hiểu,” Anna nói với Baker. “Sao không ra máy bay mà cứ xàng xàng đây chi vậy? Sao ông không điều cảnh sát ra đó?”

    “Bà Herk à,” Baker nói, “máy bay đã cất cánh rồi.”

    “Lạy Chúa,” nàng thảng thốt, lấy tay bưng mặt. Eliot ôm ghì nàng, tưởng tượng nếu là Matt trên chiếc máy bay đó, anh sẽ thấy thắt ruột thắt gan đến nhường nào.

    “Nhưng họ đang lần theo nó,” Baker nói. “Họ theo dõi nó qua ra-đa. Ổng đang thảo luận với họ về chuyện đó.”

    “Sau đó thì sao?” Eliot hỏi. “Khi máy bay hạ cánh, họ sẽ tóm cổ thằng đó chớ?”

    Baker đưa mắt qua Seitz.

    Seitz đáp lạnh tanh, “Bằng mọi giá.”


    05:55


    Tiếng phành phạch liên hồi khiến thằng Snake xoắn hết cả não. Nó nghĩ thôi thì làm siêng ra đóng cửa vậy. Vẫn hướng mặt về phía buồng lái, nó tà tà bước lùi về phía cuối máy bay.


    05:45


    Baker xô ào Seitz sang một bên rồi tiến đến chỗ Greer, người vẫn đang thao thao bất tuyệt qua điện thoại.

    “Ông có ý gì? ‘Bằng mọi giá’ là ý gì hả?” Baker hỏi.

    “Thì như tôi đã nói.”

    Baker trừng mắt nhìn Seitz. Cách đó mấy bước, Greer đang nói, “Nghe chưa? Đưa máy cho ... A xin lỗi, tôi không nhận ra giọng ông. Vâng, sir. Tôi hiểu rồi. Vâng, sir, họ đã nhận được chỉ thị.”

    “Chỉ thị gì? Ai nhận?” Baker hỏi Seitz.

    “Bé mồm thôi,” Seitz nhăn mặt, hất hàm về phía Anna.

    “Là máy bay chiến đấu phải không?” Baker hạ giọng. “Nghe Homestead là tôi nghi rồi. Các ông muốn bắn hạ chiếc máy bay đó phải không?”

    Seitz đáp khan, “Bằng mọi giá.”


    05:12


    Snake đang lùi từng bước một về phía cuối máy bay, mắt vẫn nhìn chừng các phi công. Nó đang đứng ở hàng thứ ba từ dưới lên. Rồi đến hàng thứ hai. Một bước nữa thôi nó sẽ sát rạt cô trò Monica và Matt. Monica biết mình không còn lựa chọn nào khác.


    04:52


    “Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác,” Greer nói với Baker đang đứng trước mặt y. Họ đang thấp giọng hết mức có thể, tránh để Anna và Eliot nghe thấy.

    “Rồi còn những người vô tội trên máy bay?” Baker nói. “Con gái chị kia đang ở trên đó.”

    “Với một vũ khí hạt nhân sắp phát nổ,” Greer nói. “Nếu nó nổ ở Bahamas, rất nhiều người vô tội sẽ chết, ông cũng biết mà? Chết như rạ. Cho nên phải xử lí nó ngay bây giờ.”

    Chợt một người đàn ông bận sơ mi golf Greg Norman xịn, mũ Greg Norman xịn, quần Greg Norman xịn khều vai Baker. Ông ta phải khều mấy cái nữa Baker mới chịu quay lại.

    “Gì đây?” Baker nói.

    “Cho hỏi Hàng Không Northwest đi lối nào anh?” ông ta hỏi.

    “Không biết,” Baker đáp rồi quay lại với Greer. “Phải có cách nào thông báo cho họ chứ?” ông hỏi. “Báo với họ ...”

    Ông kia lại khều Baker, “Có gì kiểu như ...”

    “BIẾN,” Baker nạt.

    “Ầy, gì nạt nộ dữ vậy,” người đàn ông lí nhí rồi lủi thủi về lại chỗ bà vợ bận chiếc đầm Hawaii rộng rinh như cái lều cưới, ấm ức kể với bà về thằng cha cục súc kia.

    “Có cách nào cho họ biết chuyện không ông?” Baker hỏi Greer. “Bảo họ liệng cái va-li ra khỏi máy bay?”

    “Bọn tôi cố lắm rồi ông ơi,” Greer nói. “Vẫn đang cố đây. Mà khổ quá, thằng phi công nó không phản hồi.”

    “Nhưng ông cũng đâu thể nào ...” Baker giơ hai bàn tay lên, rồi buông thõng chúng.

    “Bọn tôi phải làm thôi ông ạ,” Greer nói. “Bọn tôi bắt buộc phải làm. Có ai vui với cách này đâu. Có ai muốn cách này đâu. Nhưng nó đã được bàn thảo rồi, tin tôi đi, bàn nát nước nát cái rồi, và đây là phương án duy nhất.”

    Baker ái ngại đưa mắt sang Anna. Nàng đang tha thiết nhìn ông và Greer, những đại diện cho Luật Pháp và Trật Tự, chờ họ đến nói với nàng rằng con gái nàng sẽ bình an vô sự thôi. Ánh mắt Baker trở lại với Greer.

    “Rồi chừng nào làm?” ông hỏi.

    “Khi máy bay đến giữa dòng Gulf Stream,” Greer nói. “Trên vùng nước sâu.”

    “Còn bao lâu nữa?” Baker hỏi.

    Greer ngó đồng hồ đeo tay.

    “Ba phút nữa.” y đáp.


    03:17


    Snake khựng lại ở hàng ghế trước chỗ nấp của Monica. Cô có thể thấy phần sau của chân nó; nó vẫn chưa quay lại. Nó đang quát tháo gì đó không rõ với người phi công, chuyện gì đó về radio.

    Monica đưa mắt qua Matt đang ở bên kia lối đi, hất đầu về phía Snake, đoạn làm một động tác túm bằng cả hai tay, ngụ ý Ta sẽ nhảy vào nó. Matt gật đầu. Monica giơ bàn tay phải ra, với ngón trỏ và ngón giữa chúc xuống như hai cái chân, đoạn lấy ngón trỏ bàn tay trái chọt lên giữa hai cái chân đó, ngụ ý Đá vô dái nó. Matt lúng túng ít giây trước ám hiệu ấy, đoạn hiểu ra và gật đầu lần nữa. Một ý nghĩ vụt qua trong trí Monica: cậu Matt này sáng láng hơn nhiều so với cộng sự của cô, Walter.


    02:37


    Hai chiếc F-16 đều được trang bị hỏa tiễn tầm nhiệt AIM-19, tên thường gọi là “Sidewinder” (*), và AIM-120 AMRAAM, còn gọi là hỏa tiễn không đối không tầm trung tân tiến, định vị bằng radar. Bởi họ đang ở cự li gần, và máy bay 2038 có những động cơ phản lực cánh quạt phát ra đủ nhiệt lượng cần thiết, các phi công nhất trí sẽ dùng loại Sidewinder. Họ thông báo qua radio về quyết định này, và chỉ thị họ nhận lại là: Hãy tiến hành khai hỏa.


    (*) Tên lửa tầm nhiệt, đặt tên theo một giống rắn dùng khả năng cảm nhiệt để săn mồi.


    01:58


    Snake lùi thêm bước nữa. Nó hiện ở ngay trước mặt Monica và đang xoay người sang trái, về phía cánh cửa, tức khẩu súng của nó đang hướng về phía Matt. Monica vùng dậy từ tư thế khom mình, túm phắt lấy tay phải của Snake, cánh tay có súng, và tức khắc bóp mạnh nó. Thình lình, một cơn chuột rút tai ác truyền đến nửa sau đầu gối phải của cô một cơn đau tê tái, và cô khụy xuống. Vừa lúc cô lả người sang bên, Snake vùng hất tay cô ra đoạn quay phắt lại, siết cò súng. Cả thân mình Monica nẩy tung về phía sau, giập mạnh vào cửa sổ, đổ gục xuống sàn. Trên cửa sổ là một lỗ đạn lấm lem máu, với kích thước một quả bóng mềm.

    Vừa lúc Monica đọ sàn là Matt nhào đến, hai tay kẹp cứng người Snake, cố ghìm nó lại. Song thằng Snake mạnh hơn, nó cấp kì xoay người sang trái trong gọng kìm của Matt, vung súng tống một cú nẩy lửa vào một bên sọ Matt. Matt ngất ngư lảo đảo, rũ người xuống băng ghế bên phải máy bay.

    Ở phía đầu máy bay, mấy bác bưu điện về hưu vội rúc xuống sàn khi nghe tiếng súng, răng đánh lập cập. Trên chút nữa, cơ phó Frank cũng làm in hệt vậy. Justin xoay lại và thấy thằng điên đang đập lộn với ai đó, Justin không đoán nổi là ai. Tức khắc anh quay lại, chụp cái tai nghe radio.


    01:14


    “Đúng vậy,” Greer nói vào chiếc phôn kỳ dị. Y đang nhìn đồng hồ. “Lệnh đã được ban. Tôi nhắc lại, lệnh đã được ban. Tiến hành đi.”


    01:12


    Snake đang nổi trận lôi đình. Con mẹ cớm và thằng nhõi! Thế đéo nào mà tụi nó vác xác lên được đây? Nó nhìn xuống ả cớm; mắt ả vẫn đang mở, nhưng nó không chắc ả có thấy gì hay không. Nó quay lại nhìn thằng nhõi đang rên rỉ, vẫn còn cục cựa được. Chắc chắn là còn sống. Không lâu nữa đâu, thằng nhõi.


    00:59


    Greer áp chặt chiếc phôn kỳ dị vào tai. “Gì hả?” y cao giọng. “Hắn nói gì?”

    “Gì vậy?” Baker hỏi, xáp lại gần Greer. “Gì vậy?”

    “Phi công báo về rồi,” Greer nói. “Hắn ... chờ chút.” Y lắng nghe với sự tập trung cao độ. “OK,” y nói rồi nhìn đồng hồ. “Hỏi hắn cái va-li có trên máy bay không. Nghe chưa? Hỏi hắn có thể tống cái va-li ra khỏi máy bay ngay lập tức được không.” Y lại nhìn đồng hồ. Bỏ mẹ rồi.


    00:41


    Snake giương súng lên, nhắm vào đầu Matt.

    “Snake!” Ai đó hét lên. Snake xoay mặt sang phải. Đó là thằng Eddie, nó đã ra đứng giữa lối đi.

    Vẫn chĩa súng vào đầu Matt, Snake lừ mắt, “Mày muốn con mẹ gì đây?”

    “Snake, trời đất quỷ thần ơi,” Eddie lắp bắp, chỉ vào Monica. “M-mày bắn cảnh sát hả?”

    “Chính xác,” Snake nói. “Giờ tao sẽ bắn thằng chó này.”

    “Snake,” Eddie hổn hển, “Mày điên mẹ nó rồi. Tao không m ...”

    Snake túm áo Eddie, xoay một vòng rồi hất tung nó qua người Matt, vào thẳng bức tường cuối máy bay. Eddie đập lưng vào tường, rũ xuống sàn, ngay cạnh cái va-li.

    “CẤM NÓI TAO ĐIÊN NGHE CHƯA,” Snake nạt.

    “Snake,” Eddie tức tưởi, “chừng hạ cánh, tao sẽ không đi với mày đâu.”

    Snake nổ một phát. Eddie thét toáng lên, lăn cù cù trên sàn, tay ôm lấy bắp đùi đang trào máu.

    “Ai khiến,” Snake quát. “Mày đéo có cửa đi chung với tao.” Đoạn nó lại xoay người về phía Matt, giương súng lên.

    Jenny nhảy xổ vào Snake, quắp hai chân cô quanh thắt lưng nó, một tay nắm tóc nó, tay kia cào cấu điên cuồng vào mắt nó. Nó quờ quạng đưa bàn tay trái lên cố giằng cô ra, cô cắn phập vào đó, răng ngập lút xương.


    00:26


    Hai chiếc F-16 đang ở ngay phía sau mục tiêu, ở vào một vị trí bắn như trong sách giáo khoa. Mục tiêu di chuyển chậm và không có bất kì biện pháp né tránh nào. Xác suất để những quả Sidewinder đi chệch mục tiêu là zero.


    00:24


    Snake rú lên lồng lộn và giật bàn tay máu me ròng ròng ra khỏi miệng Jenny. Nó vung bàn tay còn lại từ dưới lên, thúc mạnh nòng súng vào dưới quai hàm Jenny. Đầu cô bật hẳn ra sau, và cô rơi đạch từ người nó xuống giữa lối đi.

    “CON GIẶC CÁI,” nó vừa tru tréo vừa vung chân đá vào người cô. “ÔNG GIẾT MÀY, CON GIẶC CÁI.” Lưng úp xuống sàn, Jenny lập cập lết người lên phía trên lối đi.

    “MÀY CHẠY ĐẰNG TRỜI, CON GIẶC CÁI,” Snake chĩa súng vào Jenny.

    Bất giác nó nghe thấy, át cả tiếng ồn của máy bay, tiếng cái gì đó đánh thịch ở phía sau. Nó ngoái cổ nhìn. Coi, thằng Eddie, máu me lênh láng khắp đùi, đang hừ hự đẩy cái va-li về phía mép cửa. Mắt nhắm tít, răng nghiến chặt, nó đang cố sống cố chết tống cái va-li ra khỏi máy bay. Giờ thì một nửa cái va-li đã nằm ở ngoài trời, giữa những tiếng gió rít hung tợn.

    “ĐỪNG!!!” Snake hét một tiếng chói lói. Nó bổ nhào xuống phía cuối máy bay. Vừa lúc nó đến nơi, Eddie dồn hết sinh lực cho cú đẩy cuối cùng, và cái va-li từ từ lật khỏi mép cửa. Đá văng Eddie sang một bên, Snake nhoài người ra khỏi cửa, cố túm lấy cái quai va-li bằng bàn tay trái. Nó nắm được cái quai, và gần như kéo lại được cái va-li. Duy nó đã nhoài người về phía trước hơi xa, trong khi cái va-li lại hơi nặng. Snake cảm nhận khối kim khí trình trịch đang kéo nó ra khỏi máy bay. Nó bám lấy cạnh cửa với bàn tay phải, nhưng lại kẹt khẩu súng trong bàn tay ấy nên sức mấy nó bám chặt nổi. Nếu chịu buông cái va-li ra, nó còn đường đu cái thang gập, còn đường lên lại máy bay, còn đường cứu lấy cái mạng mình. Nhưng hỡi ôi nó quá muốn cái va-li ấy; cái va-li làm trùm của nó. Snake vẫn nắm cứng cái va-li khi nó nảy cọc cọc xuống đáy thang, văng khỏi nấc cuối cùng, dắt tay Snake vào cõi u minh lộng gió, phía trên đại dương bao la mịt mùng.


    00:14


    Justin nghe những tiếng xóc nảy, và cảm biết được sự thay đổi trọng lượng bất chợt ở nửa sau máy bay. Anh ngoái cổ nhìn và không còn thấy bóng dáng thằng điên lẫn cái va-li. Anh tức khắc hét váng vào chiếc micro cài đầu.


    00:11


    Greer đang đỏ mặt quát vào chiếc điện thoại kỳ dị, khiến các hành khách trong ga phải dừng bước và ái ngại nhìn y.

    “HỦY HỦY HỦY,” y quát. “NGHE KHÔNG HẢ? HỦY HỦY HỦY.”



    Snake đang trôi rơi, trôi rơi. Sợ thì có sợ, duy nó vẫn đang suy nghĩ một cách thông suốt. Nó đã không buông bỏ chiếc va-li này. Nó sẽ không buông bỏ chiếc va-li này. Chiếc va-li ông trùm của nó. Nó sẽ song hành với người bạn này cho đến tận cuối cuộc đời.
     
  16. viet trung

    viet trung Gà con

    Bài viết:
    15
    Được thích:
    0
    Đã thích:
    0
    GSP:
    Ap
    MƯỜI BỐN




    Báo chí ngày hôm sau ngập tràn tin tức.

    Tâm điểm là câu chuyện về trận sóng sát thủ, cao hơn ba mét, vỗ vào Nam Florida lẫn Bahamas. Trận sóng làm rung chuyển cả những tàu chở hàng lớn; úp nhào những tàu thuyền nhỏ hơn, may mắn là không có ai bị thương. May nữa là trận sóng diễn ra vào ban đêm, khi các bãi biển thưa người đi lại. Đã có những thời khắc hãi hùng và thiệt hại không thể nói là nhỏ, nhưng không có người chết đuối nào.

    Nguyên nhân gây ra trận sóng, đến thời điểm này, vẫn là một bí ẩn. Phỏng đoán khả tín nhất từ các chuyên gia là nó được gây ra bởi một cơn địa chấn dữ dội nào đó dưới thềm hải lưu Gulf Stream. Sóng sát thủ đã từng xuất hiện ở Floria trước đây; thành phố Daytona Beach đã hứng chịu một đợt vào tháng Bảy năm 1992. Như trích dẫn trên báo của một nhà hải dương học: “Lúc này lúc khác, Mẹ Thiên Nhiên lại ném chúng ta vào một khúc ngoặt.”

    Không thể bỏ qua câu chuyện ly kỳ về vụ không tặc trên chiếc máy bay cánh quạt của hãng Air Impact!, từ Miami đến Freeport. Một người đàn ông – theo mô tả của một người trong nhóm hưu trí có mặt trên máy bay, là “hoàn toàn mất trí” – đã trót lọt đem một khẩu súng lên máy bay và ép buộc phi công cất cánh khi chưa nhận được huấn lệnh. Một sĩ quan cảnh sát Miami tên Monica Ramirez, vẫn chưa rõ bằng cách nào – đã lên được máy bay và trong lúc cố bắt giữ tên không tặc, hắn ta đã bắn cô. Những hành khách còn lại cũng đã kiên cường chiến đấu với tên không tặc, và trong lúc xô xát, có nhiều lí do để tin rằng hắn đã rơi từ máy bay đến nơi yên nghỉ cuối cùng của mình dưới đại dương. Sĩ quan Ramirez, được cảnh sát trưởng miêu tả như một người hùng, vẫn còn thoi thóp khi chiếc máy bay về đến Miami; cô ở trong một tình trạng nguy kịch, nhưng các bác sĩ lạc quan về tiên lượng của cô. Một hành khách được xác định là Edward Porter cũng phải chịu một vết thương do đạn bắn ở chân; tình trạng của ông theo đánh giác của các bác sĩ là không có gì đáng ngại.

    Trùng hợp một cách lạ lùng, một câu chuyện khác, hoàn toàn chẳng liên quan, xảy ra vẫn ở sân bay này gần như cùng thời điểm. Không rõ bằng cách nào, một con trăn dài bốn mét đã xổng ra ở phòng chờ chính và tấn công một hành khách được xác định là Leonard Pflund, một chuyên gia tư vấn bốn mươi hai tuổi đến từ East Orange, New Jersey. Ông đã được giải cứu bởi đối tác kinh doanh của mình, Henry Algott bốn mươi bảy tuổi, cũng đến từ East Orange, là người đã lấy mạng con rắn bằng một khẩu súng lục. Cảnh sát đã tịch thu khẩu súng và tạm giam Algott trong khi tiếp tục điều tra về sự việc. Cảnh sát cho biết họ sẽ đệ đơn khởi kiện chủ nhân của con rắn, Neil Hart, khi ông này rời khỏi bệnh viện, nơi ông đang được chữa trị cho những thương tích gặp phải trong lúc kháng cự việc bắt giữ.

    Cảnh sát báo cáo về hai vụ việc bất thường diễn ra ở Coconut Grove. Sự kiện thứ nhất, một người đàn ông được xác minh là Jack Pendick, hai mươi tám tuổi, thường trú tại khu công viên nhà lưu động nhìn ra bến cảng ở Cutler Ridge, đã bị câu lưu sau khi nổ nhiều phát súng ở một địa điểm gần khu phức hợp mua sắm CocoWalk. Không có ai bị thương, nhưng vụ nổ súng và sự bắt giữ Pendick sau đó đã thu hút một lượng lớn khách du lịch, gây ra ùn tắc cục bộ trên Đại lộ Grand. Một vài giờ sau tại một khu dân cư ở Grove, một sĩ quan cảnh sát Miami được xác định là Walter Kramitz, đã được tìm thấy trên đường Garbanzo với một bàn tay bị xích vào một khối kim loại to kềnh, chung với một giám đốc kinh doanh địa phương được xác định là Arthur Herk. Đây nhiều khả năng là kết quả của một vụ cướp đột-nhập-tư-gia tại ngôi nhà của Herk, song le những tình tiết của vụ việc, và nhất là nguyên nhân nào khiến Kramitz và Herk kết thúc giữa đường cái, vẫn chưa được làm sáng tỏ.

    Sau cùng, giao thông trên Le Jeune Road vốn luôn tấp nập đã bị tê liệt suốt vài giờ liền, khi một bầy dê bằng cách nào đó đã xổng chuồng và chạy rong giữa lòng đường. Một tờ báo chạy câu chuyện này như một “điểm sáng” ở góc dưới cùng bên phải trang nhất, với bức ảnh một nhân viên kiểm soát động vật nhễ nhãi mồ hôi, trong vòng vây của xe cộ, đang rượt bắt một con dê trông rất phấn khởi và đầy năng lượng. Bức ảnh này mang đến những cảm xúc tương đồng từ hàng nghìn độc giả: Họ lắc đầu, mỉm cười, và nói: “Chỉ có ở Miami.”







    VĨ THANH




    Trong những tuần sau đó, các nhà hải dương học bên bờ Đại Tây Dương đã phát hiện sự nhiễm phóng xạ ở mức độ cao trong thành phần nước của hải lưu Gulf Stream. Thêm vào đó, một số thủy thủ ghi nhận hiện tượng cá chết nhiều một cách bất thường nổi lềnh bềnh trên mặt biển. Nhiều giả thuyết khác nhau được đưa ra cho hiện tượng này, một trong số đó cho rằng vụ cá chết, và cả trận sóng sát thủ, được gây ra bởi một sự cố thảm khốc trên một tàu ngầm hạt nhân. Cáo buộc này được nhiều người cổ súy mạnh mẽ trên Internet, đáng chú ý nhất là Pierre Salinger. Việc chính phủ Hoa Kỳ khẳng định không có bất cứ tàu ngầm nào, hạt nhân hay không hạt nhân, tại khu vực đó càng củng cố thêm niềm tin của họ. Song chờ mãi chẳng thấy bằng cớ cụ thể nào nổi lên, và sự vụ sau rốt chìm lãng vào trong kho tàng thuyết âm mưu lẩm cẩm nhức đầu.


    Cục Quản Lý Hàng Không Liên Bang lập tức đình chỉ mọi chuyến bay của Air Impact!, không lâu sau, hãng này đệ đơn xin phá sản. Đáp lại sự phẫn nộ đến từ công chúng và các chính khách nhắm vào công tác an ninh lôm côm thấy rõ của Phi Trường Quốc Tế Miami, một lực lượng biệt phái cấp cao đã được thành lập để xử lí tận gốc các vấn đề, cũng như đề ra những giải pháp. Sau nhiều tháng họp hành, một số biện pháp đã được triển khai, đáng kể nhất là việc thuê một công ty tư vấn chuyên nghiệp để giám sát hoạt đông của các chốt kiểm soát an ninh. Hợp đồng béo bở này đã được trao cho See-Cure Tech, Inc., một công ty con hoàn toàn thuộc sở hữu của Penultimate, Inc.


    EDDIE PORTER được thăm hỏi ở bệnh viện bởi các điều tra viên đến từ nhiều cơ quan hành pháp khác nhau, nhiều người trong số họ khá tò mò về lí do y có mặt trên chuyến bay 2038. Song FBI đã tiếp quản cuộc điều tra và phán chắc nịch không có lí do gì để giam giữ Eddie. Y trở về Coconut Grove, gia nhập ngôi đền Hare Krishna trong vùng và hiện được biết đến với cái tên Ram Baba Ram.


    KHÔNG AI hỏi han gì về Snake.


    HENRY ALGOTT chịu câu lưu và xét xử dựa trên những cáo buộc liên quan đến vũ khí, phát sinh từ biến cố ở quầy vé Delta. Tại phiên tòa, công tố viên viện dẫn bằng chứng cho thấy Algott đã từng có tiền án, và suy đoán y có liên hệ với các băng đảng tội phạm quy mô lớn. Luật sư của Henry, tình cờ là một trong các luật sư từng được Henry thuyết giảng về phép lịch sự khi hút thuốc, cụ thể là Luật sư C. Bất chấp phản đối kịch liệt từ công tố viên, ông đã được chủ tọa chấp thuận cho mang một con trăn trưởng thành vào tòa, cốt để bồi thẩm đoàn có thể đánh giá đúng mức về mối đe dọa mà Henry đã dũng cảm đương đầu ở sân bay. Con rắn, bằng cách nào đó – công tố viên la làng đó là cố tình – xổng ra và phải lắm trần ai mới khống chế được nó, phòng xử án được một phen nhảy loạn cào cào, và thừa phát lại trợt té trật khớp vai. Bồi thẩm đoàn mất chưa tới mười phút để đưa ra phán quyết vô tội. Henry trở về East Orange, nơi y và Leonard tiếp tục công việc tự do đâm thuê chém mướn rất thành công, song cả hai từ chối nhận thêm bất cứ phi vụ nào ở Nam Florida.

    Chủ nhân của Daphne kiện Hạt Dade vì những thương tổn liên quan đến việc bị đè bẹp dí trên sàn nhà, cộng thêm sự mất mát con vật cưng yêu quí. Bồi thẩm đoàn quyết định bù đắp cho y 3.2 triệu đô la.


    Sau khi rời khỏi viện tâm thần, Arthur Herk mò tới văn phòng luật sư Hoa Kỳ và thuật lại một câu chuyện hết sức hoang dại, với nào là tham nhũng, hối lộ, giết mướn, rồi một địa điểm ở Coconut Grove bán bom và tên lửa. Nhưng khi các điều tra viên đến địa chỉ ấy, họ chỉ thấy một quán bar bị bỏ hoang, cửa nẻo bịt kín, chẳng có gì bên trong ngoài những bích chương quảng cáo bia cũ rích và một cái TV vỡ toác. Arthur từ trần vài tháng sau đó với nguyên nhân được kết luận là tai nạn trong khi câu cá, khá lạ, bởi như lời mọi người thì hồi nào tới giờ Arthur làm gì có thú vui câu cá.


    Ivan Chukov và Leonid Yudanski được đưa đến một cơ sở liên bang an toàn và chịu thẩm tra trong vài tuần, trước khi bị trục xuất về Moscow. Ở đó họ mở một cửa hàng Starbucks rất khá.


    WALTER KRAMITZ, hết chịu nổi những lời châm biếm của đồng nghiệp, xin rút khỏi ngành để trở thành vũ công tại một hộp đêm cho phụ nữ có tên “Thrust.” Tên sân khấu của anh là Buck Lance.


    JACK PENDICK không có bất kì biện hộ nào cho những cáo buộc liên quan đến vụ nổ súng ở Coconut Grove. Sau một năm ăn cơm nhà nước, y được phóng thích sớm vì hạnh kiểm tốt, và sau cùng đã tìm được công việc là một nhân viên bảo vệ.


    MONICA RAMIREZ phục hồi chậm nhưng ổn định. Sau khi ra khỏi khu vực điều trị chuyên sâu, nàng được Harvey Baker bánh trái thăm hỏi đều đều, và đến khi nàng ra viện, hai người khởi sự hẹn hò. Một đêm nọ, sau khi họ vừa dứt cạn chai rượu vang – lần đầu từ khi bác sĩ cho phép nàng đụng đến thức uống có cồn – ông ngỏ lời cầu hôn nàng, và nàng ưng thuận, và hai người làm tình với nhau. Thế rồi, sau khi nàng đã thề thốt sẽ không hé môi với bất cứ ai, ông tiết lộ với nàng về thứ đã từng có trong chiếc va-li ấy. Và nàng thốt lên, lẽ nào họ để một thằng cô hồn mạt hạng xỏ mũi an ninh sân bay, mang theo nào súng nào vũ khí hạt nhân? Và ông cười lạt, đúng đó em. Và nàng thở dài, ôi cái thế giới này. Và hai người hiếm khi nhắc lại chuyện này.


    ELIOT ARNOLD lún sâu vào nợ nần, và tiến gần đến việc bị sút khỏi văn phòng của mình bởi không gánh nổi tiền thuê. Vào cái ngày chủ nhà dự định tống cổ anh đi, văn phòng của anh đón nhận cuộc viếng thăm từ hai cộng sự trẻ măng của một đại lý quảng cáo nhất hạng ở New York. Họ hỏi anh có phải cha đẻ của quảng cáo Bia Đầu Búa không, và trước khi anh kịp phân bua đó không hẳn là ý tưởng của mình, họ bảo rằng họ CHẾT MÊ cái quảng cáo ấy, nó BỰA vãi. Họ muốn chiêu mộ Eliot cho một chiến dịch tầm quốc gia trên cả bản in lẫn truyền hình với kinh phí khủng, để quảng bá cho một sản phẩm nước giải khát không cồn mới dành cho giới trẻ có tên SpewTum, với sự góp mặt của một tên tuổi sáng giá: ban nhạc Seminal Fluids.


    ANNA đệ đơn ly dị Arthur, và được chấp thuận nhanh gọn lẹ. Lão chẳng có gia tài kếch xù nào để lại, nhưng chí ít nàng được giữ ngôi nhà. Nàng và Eliot đều nhất trí họ sẽ không nhảy cóc đến bất kì điều gì, hai người dự định sẽ đi nước bền. Bốn ngày sau họ thành hôn.


    JENNY VÀ MATT cặp kè được một thời gian và đến vũ hội cuối năm cùng nhau, song hai người cứ thấy kì kì thế nào ấy, chuyện ba má họ đã là uyên ương các thứ. Thành thử cả hai quyết định trở thành bạn tốt của nhau, và họ giữ vẹn nguyên tình bạn đẹp ấy đến mãi về sau.


    CÓC THÙ ĐỊCH, hình như bị sang chấn tâm lí từ lần đụng độ với Arthur, biến đâu mất tăm và không bao giờ trở lại. Dù Roger chẳng bao giờ nói ra, nhưng thật tình nó thấy hơi nhớ cái con quỷ sứ ấy.


    PUGGY dọn đến ở chung với Nina trong căn buồng cho người hầu gái, dù đôi khi để gợi lại kỉ niệm xưa, hai người lại trèo lên cây để ngủ. Puggy làm mấy việc lẩm cẩm trong nhà giúp Eliot và Anna; thi thoảng kiếm thêm thu nhập nhờ tham gia bầu cử hội đồng thành phố Miami, vốn được đặt hàng định kỳ từ các cơ quan tư pháp. Cũng ham học tiếng Tây Ban Nha lắm chớ, nèo nẹo rù Nina bày hoài à, nhưng câu độc nhất Puggy nói thạo là Te quiero. Hóa ra nhiêu đó cũng là quá đủ với anh chàng rồi.


    Te quiero: Tôi yêu em (tiếng Tây Ban Nha)
     

Chia sẻ trang này